CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tư duy và tư duy sáng tạo 1. Khái niệm về tư duy và tư duy sáng tạo a. Khái niệm về tư duy Theo tâm lý học đại cương (2000) [39], tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính cơ bản, các mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong thực tế khách quan mà chúng ta chưa biết trước đó.
Quá trình tư duy bao gồm các giai đoạn: xác định vấn đề và biểu đạt; xuất hiện các liên tưởng; sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết; kiểm tra giả thuyết; và giải quyết nhiệm vụ tư duy. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2002) [38], tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán và lý luận. Dưới góc độ của triết học duy tâm khách quan, tư duy được xem là sản phẩm của ý niệm tuyệt đối, là một bản năng siêu tự nhiên, độc lập và không phụ thuộc vào vật chất.
Theo Georg Wilhelm Friedrich Hegel, ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện. Theo Karl Marx nhận xét rằng, đối với Hegel, vận động của tư duy được nhân cách hóa dưới tên gọi ý niệm, là chúa sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm. Dưới quan điểm của triết học duy vật biện chứng, tư duy được khẳng định là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Karl Marx cho rằng vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực 13 khách quan được di chuyển vào và được tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh.
Từ góc độ giáo dục, chúng ta có thể hiểu tư duy là một hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó sử dụng suy nghĩ hoặc tái tạo suy nghĩ để hiểu hoặc giải quyết một vấn đề nào đó. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về tư duy. Tuy nhiên, khái niệm phù hợp nhất với đề tài này có thể hiểu là tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người.
Mục tiêu của nó là tìm ra các triết lý, các phương pháp luận và đưa ra các giải pháp phù hợp để giải quyết các tình huống hoạt động của con người trong cuộc sống. Tư duy sáng tạo Sáng tạo là loại hình tư duy cao nhất của hoạt động trí tuệ và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của loài người. Ở Việt Nam, vấn đề sáng tạo hay tư duy sáng tạo (TDST) đã được các nhà nghiên cứu xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Lê Hải Yến (2008) trong nghiên cứu về tư duy đã cho rằng: TDST, hay tư duy khám phá, là loại tư duy mở, không theo logic chặt chẽ, và có mối quan hệ mật thiết với tư duy phê phán hoặc tư duy lập luận logic trong việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề.
Theo Giáo sư Nguyễn Bá Kim (2008), tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cần thiết của TDST. Các đặc điểm này thể hiện sự sáng tạo của tư duy qua khả năng tạo ra cái mới, khám phá và tìm ra hướng đi mới. 14 Tác giả Phan Dũng nhận định rằng: TDST là quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định, để đi từ không biết cách đến biết cách, và quá trình này phải tạo ra tính mới. Tác giả Đức Uy cho rằng: Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân và các tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của người đó.
Quan điểm này nhấn mạnh rằng không có sự phân biệt về mức độ sáng tạo, nghĩa là bất kỳ sự sáng tạo nào, dù ít hay nhiều, đều là sáng tạo [40, tr. Theo Chu Quang Tiềm: "sáng tạo dựa vào những ý tưởng đã có sẵn, sau đó cắt xén, chọn lọc và tổng hợp lại để tạo thành một hình tượng mới". Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của những ý tưởng đã biết làm cơ sở cho sự sáng tạo [36, tr. Từ các góc độ khác nhau, TDST được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng có những điểm chung như sau: TDST là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; hoạt động sáng tạo diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, và trong mọi lĩnh vực; bản chất của TDST là con người phát hiện ra vấn đề mới, tìm hướng đi mới, cách giải quyết mới và tạo ra kết quả mới.
Các thao tác tư duy Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học đã xác định các thao tác trí tuệ cơ bản trong quá trình tư duy sáng tạo: - Phân tích: Đây là quá trình dùng trí óc để chia nhỏ đối tượng nhận thức thành các thành phần khác nhau, từ đó phân tích và xác định các thuộc tính, đặc điểm của đối tượng để hiểu rõ hơn về tổng thể. - Tổng hợp: Là quá trình sử dụng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hoặc kết hợp các thành phần đã phân tích thành một thể thống nhất, giúp nhận thức đối tượng một cách toàn diện và bao quát. 15 - So sánh - tương tự: Thao tác này nhằm xác định sự tương đồng và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thực tế, từ đó nhận thức và phân biệt các đặc điểm bản chất và không bản chất của chúng. - Trừu tượng hóa: Là quá trình loại bỏ những mặt, thuộc tính hay mối quan hệ không cần thiết của đối tượng nhận thức, chỉ giữ lại những yếu tố đặc trưng và bản chất quan trọng.
- Khái quát hóa: Đây là quá trình hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại dựa trên các thuộc tính, quan hệ chung của chúng, từ đó tạo ra một nhận thức tổng quát và định luật về các đối tượng đó. Những thao tác này không chỉ phản ánh cấu trúc bên ngoài của quá trình tư duy sáng tạo mà còn là các quy luật bên trong mỗi hành động sáng tạo. Trong thực tế, các thao tác này thường đan xen và không theo trình tự cố định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệm vụ cụ thể và điều kiện môi trường. Các yếu tố của tư duy sáng tạo Có nhiều quan niệm về các đặc trưng (thuộc tính) của TDST.
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Torrance (1962), cho rằng TDST được đặc trưng bởi 5 yếu tố là tính thuần thục, tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính hoàn thiện và tính nhạy cảm được thể hiện cụ thể như sau: - Yếu tố 1: Tính thuần thục (fluency) Tính thuần thục (nhuần nhuyễn) là yếu tố đầu tiên trong 5 yếu tố. Nó thể hiện khả năng làm chủ tư duy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các cách xử lý khi giải quyết vấn đề. Đó chính là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết về ý tưởng mới. Nó được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng.
16 Tính thuần thục của TD thể hiện ở các đặc trưng sau: + Xem xét đối tượng ở nhiều mặt, đa chiều, toàn diện đối với vấn đề cần giải quyết bằng cách lập kế hoạch và phương pháp giải theo quy trình và các bước thực hiện cụ thể. Kết quả thể hiện ở tính hoàn chỉnh và chính xác. + Khả năng cùng một vấn đề tìm được nhiều giải pháp và chọn lọc hướng đi tốt nhất thể hiện rõ ở việc có thói quen tìm tòi những hướng đi khác. - Yếu tố 2: Tính mềm dẻo (flexibility) : Tính mềm dẻo (linh hoạt) là khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác một cách dễ dàng.
Đó là năng lực chuyển dịch nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong mối liên hệ mới,.dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người. Tính mềm dẻo có những đặc điểm là: + Khả năng biết phối, kết hợp tổng quát các thao tác tư duy, các suy luận: Biết kết hợp giữa ba thao tác phân tích, so sánh và trừu tượng hóa với tổng hợp khái quát hóa vấn đề để phân tích xác định được các đối tượng trong bài; xác định mối quan hệ giữa các đối tượng; xác định yêu cầu của bài tập - xác định các yếu tố, điều kiện cần và đủ, có kĩ năng suy luận. + Dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác: Phân tích vấn để theo nhiều hướng khác nhau. Nhận thức được rằng cùng một nội dung có thể diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau và ngược lại.
Tìm ra nhiều cách giải quyết cho cùng một vấn đề học tập (chẳng hạn tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán). Giải được các bài tập với những tình huống và dữ liệu đã biến đổi đôi chút (con số, cách hỏi) nhưng cùng hướng giải quyết. Biết tách vấn đề thành các đối tượng nhỏ hơn để giải quyết. 17 + Khi gặp trở ngại có thể tự điều chỉnh hướng suy nghĩ giải quyết: Có những phản xạ nhạy bén khi gặp những vấn đề bất ngờ phát sinh bằng cách thiết lập các mối quan hệ, kế hoạch để ứng phó.
Khi nhận thấy hướng đi chưa đúng phải tự chuyển hướng khác để phân tích vấn đề. + Không áp dụng kiến thức máy móc, rập khuôn, cứng nhắc khi đặt vào những hoàn cảnh có những yếu tố thay đổi: Khi vấn đề bị đảo ngược thì phải nhận ra tính hợp lý của quá trình suy luận. Giải quyết được những vấn đề khó với những dữ kiện phức tạp đã cho. Biết vận vận dụng phương pháp đã biết vào các bài tập tương tự đã làm.
Giải được các bài tập đã có sự biến đổi về số, về cách hỏi nhưng vẫn hướng đi đấy. - Yếu tố 3: Tính độc đáo (originality) Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phương thức lạ và duy nhất.