Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng xuất nhập khẩu tại ngân hàng. + Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sơn Tây trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013. + Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sơn Tây trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG 1.1 Tín dụng xuất nhập khẩu 1.
Tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.
Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì.Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Như vậy chúng ta có thể hiểu về tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả lẫn nhau. Theo các nhà kinh tế: tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hoá. Tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. 6 Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức tiền tệ.
Tuy nhiên trong một số hình thức tín dụng, như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác như tài sản cố định. Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại, đồng thời đó cũng là nghiệp vụ có qui trình kỹ thuật rất phong phú, phức tạp đòi hỏi nhà quản trị ngân hàng cũng như kế toán tín dụng phải nắm vững nghiệp vụ này để làm tốt công tác quản trị và kế toán. Tín dụng xuất nhập khẩu Trên cơ sở khái niệm về tín dụng ta có thể định nghĩa tín dụng xuất nhập khẩu như sau: Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng là hình thức tài trợ thương mại, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ, đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác. Theo đối tượng vay tín dụng xuất nhập khẩu chia thành hai loại gồm: tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu.
Tín dụng xuất khẩu là việc cung cấp nguồn vốn để giúp doanh nghiệp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu. Mục đích của tín dụng tài trợ xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu. Tín dụng xuất khẩu bao gồm các hình thức như: chiết khấu bộ chứng từ, cho vay trên cơ sở bộ chứng từ nhờ thu, cho vay chiết khấu hối phiếu, cho vay thông thường…Đây còn là một kênh tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt động nhập khẩu của ngân hàng. Tín dụng nhập khẩu là việc cung cấp các khoản vay (ngắn, trung, dài hạn) để giúp doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu cần thiết phục vụ sản xuất kinh doanh.
Mục đích của tín dụng tài trợ nhập khẩu là cho vay để giúp các doanh nghiệp nhập nguyên liệu, vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất…Tín dụng 7 nhập khẩu bao gồm các hình thức như: cho vay thanh toán bằng bộ chứng từ thư tín dụng L/C, cho vay thanh toán bộ chứng từ nhờ thu, phát hành bảo lãnh… b. Theo thời điểm tài trợ được chia làm ba loại là tín dụng tài trợ giai đoạn trước khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu, tín dụng tài trợ giai đoạn ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu và tín dụng tài trợ giai đoạn sau khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu. Tín dụng tài trợ giai đoạn trước ký hợp đồng xuất nhập khẩu là việc ngân hàng tài trợ cho các nhu cầu của nhà xuất nhập khẩu vào thời điểm trước khi ký hợp đồng. Với nhà xuất khẩu là các chi phí như sản xuất hàng mẫu, nhu cầu bảo đảm tham gia đấu thầu…Với nhà nhập khẩu là các chi phí như tài trợ tổ chức việc đấu thầu với các nhà cung cấp dịch vụ, chi phí thuê chuyên gia tư vấn phân tích chọn nhà thầu…Mặc dù giai đoạn đầu này chưa có sự tham gia của hoạt động sản xuất sản phẩm hàng hóa và thường chi phí thấp, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu để bước vào giai đoạn ký và thực hiện hợp đồng.
Tín dụng tài trợ giai đoạn ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu là việc ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu bằng các dịch vụ của mình để đảm bảo các bên thực hiện hợp đồng theo cam kết. Với nhà xuất khẩu đó là những nhu cầu như: bảo đảm hoàn thành hợp đồng do chưa tạo được uy tín cao, cam kết cung cấp vốn để thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu theo yêu cầu nhà nhập khẩu, nhu cầu hoa hồng cho bên môi giới thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu…Với nhà nhập khẩu đó là những nhu cầu như: bảo đảm nguồn tiền thanh toán khi giao hàng bằng nghiệp vụ L/C hoặc bằng bảo lãnh quốc tế, chi phí cho nhà môi giới hợp đồng…Tại giai đoạn này mục đích chủ yếu là tạo tính an toàn cho các bên tham gia hợp đồng, giảm thiểu rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế. Tín dụng tài trợ giai đoạn sau khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu là việc ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tín dụng xuất nhập khẩu của mình để phối hợp cùng với nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu thực hiện hợp đồng đã ký. Đây là giai đoạn mà quy mô tín dụng xuất nhập khẩu lớn nhất.
Với nhà xuất khẩu là những nhu cầu liên quan đến chi phí thực hiện sản xuất như chi phí xây nhà xưởng, mua máy 8 móc thiết bị của giai đoạn đầu tư sản xuất và bảo dưỡng trong suốt quá trình sản xuất; chi phí vốn lưu động để mua nguyên vật liệu thực hiện sản xuất hàng hóa theo hợp đồng do tiền đặt cọc hoặc tiền tạm ứng không đủ; chi phí vận tải bảo hiểm khi thực hiện cung ứng hàng hóa theo điều khoản hợp đồng; chi phí thực hiện lắp ráp, chạy thử, bàn giao hàng hóa, công trình trước khi người mua chấp nhận và thanh toán; nhu cầu được bảo lãnh sản phẩm để người mua thực hiện đúng điều khoản bảo hành…Với hoạt động nhập khẩu là những nhu cầu liên quan đến chi phí như đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng; chi phí thực hiện việc vận chuyển hàng hóa và bảo hiểm theo hợp đồng đã ký; bảo lãnh để nhận hàng khi thanh toán trả chậm; chi phí để hoạt động dây chuyền công nghệ nhập khẩu…Trong giai đoạn này các hình thức chủ yếu ngân hàng cung cấp hỗ trợ nhà xuất nhập khẩu là nguồn vốn để thanh toán và thực hiện hợp đồng. Theo phương thức tài trợ xuất nhập khẩu phân thành sáu loại gồm: Cho vay trên cơ sở thư tín dụng (L/C); Cho vay trên cơ sở hối phiếu; Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ nhờ thu; Cho vay trên cơ sở thanh toán trực tiếp; Cho vay thông thường tài trợ xuất nhập khẩu; Bảo lãnh quốc tế. Phương thức đầu tiên là cho vay trên cơ sở thư tín dụng (L/C), đây là hình thức ngân hàng thực hiện cung cấp tín dụng cho khách hàng theo bộ chứng từ thư tín dụng mà ngân hàng đã cấp cho nhà xuất khẩu theo đề nghị của nhà nhập khẩu. Với nhà nhập khẩu nhu cầu này bao gồm việc ngân hàng cho nhà nhập khẩu vay để thực hiện ký quỹ mở L/C khi ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu do nguồn vốn của khách hàng và tiền đặt cọc không đủ; cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thư tín dụng về khi nguồn vốn tự có của khách hàng không đủ thanh toán…trong phương thức tài trợ này ngân hàng sẽ thực hiện đánh giá phương án sản xuất kinh doanh và các yếu tố tín dụng khác để quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và mức chấp nhận tài trợ trước khi thực hiện mở L/C.
Với nhà xuất khẩu là việc ngân hàng cấp tín dụng cho vay đối ứng trên cơ sở L/C mà nhà nhập khẩu đã yêu cầu ngân hàng phát hành của nhà nhập khẩu thực hiện cấp cho nhà xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Nguồn tiền cho vay trên cơ sở này 9 nhằm mục đích tài trợ vốn giúp nhà nhập khẩu thực hiện công trình như vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn lưu động…Nguồn trả nợ của khoản vay này được đảm bảo bằng chính nguồn tiền của L/C mà ngân hàng phát hành cam kết trả cho nhà xuất khẩu thay cho nhà nhập khẩu. Nhìn chung có thể nói hình thức tài trợ dựa trên cơ sở thư tín dụng (L/C) hiện nay chiếm thị phần lớn trong hoạt động tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu tại Việt Nam, do tính an toàn trong thanh toán và sự đảm bảo trong thực hiện các điều kiện của hợp đồng.