CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG, TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thương mại Trước hết, có thể nói TDTD là một trong những hình thức cho vay của NH dành cho KH. Vậy để có thể hiểu một cách rõ ràng về TDTD, ta cần phải hiểu rõ khái niệm về cho vay ở ngân hàng là gì? Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao hàng cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” [18] Như vậy, dựa trên cơ sở khái niệm cho vay ta có thể hiểu TDTD là: “Nghiệp vụ cho vay trong đó NHTM giao và cam kết giao cho cá nhân sử dụng vốn nhất định trên nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định, nhằm giúp cho người khách hàng có thể thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng.
Đồng thời, tạo mọi điều kiện cho họ hưởng thụ một mức sống cao hơn trước khi họ có khả năng chi trả. Đặc điểm tín dụng tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng nằm trong danh mục cho vay của NH, nên nhìn chung nó mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động cho vay nói chung. Bên cạnh đó, TDTD còn có những đặc điểm riêng. Cụ thể như sau: Một là, quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn nên khi KH có nhu cầu mua sắm hàng hóa để tiêu dùng, họ thường có xu hướng tiết kiệm từ trước.
Họ chỉ tìm đến ngân hàng để bù đắp phần thiếu hụt tạm thời. Vì vậy, khi nền kinh tế xã hội phát triển, thu nhập của người dân sẽ tăng lên; do đó nhu cầu hưởng thụ của họ cũng tăng theo. Tuy nhiên, tại một thời điểm nhất định thì khoản 4 thu nhập tích lũy của họ chưa đủ đáp ứng khoản chi mà họ đang cần nên lúc này họ sẽ tìm đến ngân hàng xin vay. Hai là, thường có chi phí cao nên TDTD là một trong những khoản mục cho vay có chi phí cao nhất trong danh mục cho vay của NH.
Do các khoản vay tiêu dùng có quy mô nhỏ song số lượng các khoản vay nhiều nên chi phí các khoản vay như lập hồ sơ, thẩm định cao. Mặc khác, KH đến vay tiêu dùng tại NH là các cá nhân, hộ gia đình nên việc thu thập thông tin gặp rất nhiều khó khăn, khó đảm bảo tính chính xác. Vì vậy, việc ra quyết định cấp tín dụng như thanh tra, kiểm tra, giám sát và thu hồi nợ thường gây tốn kém nhiều chi phí của ngân hàng. Ba là, thường có độ rủi ro cao nên hoạt động TDTD của ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan cũng như chủ quan, vì vậy TDTD là hoạt động chứa nhiều rủi ro gồm: - Các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, thất nghiệp, chu kỳ kinh tế.
Khi các nguyên nhân kể trên tác động vào thì nguồn thu nhập của các cá nhân và hộ gia đình bị ảnh hưởng, dẫn đến việc trả nợ gặp nhiều khó khăn. Và khi nền kinh tế hưng thịnh thì nhu cầu tiêu dùng tăng lên nhưng khi nền kinh tế suy thoái thì người dân lại hạn chế chi tiêu, tăng cường tích lũy, đồng thời thu nhập của cá nhân, hộ gia đình giảm sút, ảnh hưởng đến việc trả nợ vay cho NH. - Ngoài các yếu tố khách quan thì TDTD còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan từ phía khách hàng. Thường chất lượng các thông tin tín dụng mà KH cung cấp rất khó xác thực.
Nguồn trả nợ có khả năng thay đổi nhanh chóng khi người vay thay đổi nơi làm việc, thay đổi vị trí công việc hoặc có sự thay đổi về sức khỏe và một số khách hàng còn cố tình kéo dài việc trả nợ khi đến hạn, từ đó dẫn tới tỷ lệ nợ quá hạn tăng lên và có thể thấy hoạt động TDTD là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Bốn là, kém nhạy cảm với lãi suất nên về cơ bản đối tượng TDTD họ thường chỉ quan tâm đến số tiền hàng tháng hoặc hàng quý họ phải trả cho ngân hàng hơn là lãi suất mà ngân hàng áp dụng. Năm là, lãi suất tín dụng tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại nên lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay của ngân hàng trong thời 5 gian nhất định. Lãi suất thường phụ thuộc vào độ rủi ro của các khoản vay nên rủi ro càng lớn thì lãi suất càng cao.
Sáu là, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tiêu dùng lớn nên các khoản TDTD thường nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách của KH và họ luôn muốn sở hữu hay sử dụng dịch vụ ngay trong hiện tại. Hơn nữa, thời hạn của khoản vay này không dài nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất cao. Bảy là, nguồn trả nợ từ thu nhập hàng tháng của khách hàng thường phải có tài sản đảm bảo do người vay không sử dụng tiền vay vào các hoạt động kinh doanh và không tạo ra nguồn trả nợ trực tiếp cho NH nên việc trả nợ của KH phụ thuộc vào nguồn thu nhập hàng tháng của KH. Sự kiểm soát nguồn thu của NH thường gặp nhiều khó khăn nên để bớt hạn chế rủi ro trong hầu hết các khoản TDTD, ngân hàng đều yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm bằng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng.
Nguyên tắc và điều kiện tín dụng tiêu dùng 1. Nguyên tắc chung trong tín dụng tiêu dùng Thứ nhất, tiền vay phải sử dụng đúng mục đích vì theo nguyên tắc mục đích sử dụng vốn phải được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn như sau: + Về phía ngân hàng có thể từ chối và hủy bỏ mọi yêu cầu vay vốn nếu như bên đi vay không sử dụng đúng mục đích đã định. Việc sử dụng tiền vay sai mục đích thể hiện sự thất tín của bên vay và hứa hẹn nhiều rủi ro lớn cho NH. Do đó, khi cho vay, NH buộc bên vay phải tuân thủ nguyên tắc này và trong suốt thời gian vay vốn NH sẽ thường xuyên giám sát, kiểm tra hành động của bên vay.
Việc KH sử dụng vốn vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí, thậm chí nếu KH sử dụng vào các mục đích bất hợp pháp thì tài sản đó sẽ bị tịch thu, tiêu hủy. Ngược lại, nếu sử dụng vốn đúng mục đích thì sẽ giúp cho ngân hàng có cơ sở để thẩm định ra và đưa ra quyết định cho vay. + Về phía khách hàng việc sử dụng vốn vay đúng mục đích mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, nâng cao chất lượng cuộc sống của KH vay vốn, đồng thời giúp KH đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay cho NH. Từ đó, nâng cao uy tín của KH đối với NH và củng cố mối quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
6 Thứ hai, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi vì đó là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà NH sử dụng để cho vay. Đại đa số mà NH sử dụng để cho vay là vốn huy động từ KH gửi tiền. Do đó, sau khi cho vay trong một thời gian nhất định, KH vay tiền phải hoàn trả lại để NH chi trả cho KH gửi tiền.
Hơn nữa, tiền lãi thu được từ hoạt động TDTD là thu nhập của ngân hàng, là cơ sở giúp NH trang trải các khoản chi phí và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Phương thức hoàn trả gốc và lãi cũng như thời gian được ghi rõ trong hợp đồng vay vốn, nên bất cứ sự chậm trễ nào trong việc hoàn trả gốc và lãi; không đảm bảo đủ số lượng đều là vi phạm hợp đồng tín dụng và ngân hàng có quyền chấm dứt hợp đồng và sử dụng các biện pháp thu hồi nợ. Điều kiện tín dụng tiêu dùng Điều kiện TDTD là những yêu cầu của ngân hàng đối với bên vay để làm căn cứ xét, quyết định cấp vốn. Khách hàng chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ thỏa mãn tất cả các điều kiện vay vốn như sau: Thứ nhất, khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý: Quan hệ giữa KH và NH là quan hệ được pháp luật bảo vệ.
Vì vậy, nó phải được lập trên cở sở quy định của pháp luật. Do đó, các chủ thể tham gia quan hệ phải có đủ tư cách pháp lý. Ngoài ra, trong quan hệ vay mượn còn phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản nên cần có sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của pháp luật (Quy định tại Điều 16 - Theo Luật số 91/2017/QH13, ở Hà Nội, ngày 24/11/2017 của Bộ Luật dân sự nói về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân). Thứ hai, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp: Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với nguyên tắc sử dụng vốn mà các cá nhân, hộ gia đình đã cam kết.
Vì vậy, khi KH sử dụng vốn bất hợp pháp thì các tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc bị tịch thu; từ đó ảnh tới khả năng hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng. Ngoài ra, khi vốn vay sử dụng bất hợp pháp thì thì tư cách pháp nhân của khách hàng có thể bị mất đi và nó sẽ ảnh hưởng tới quan hệ tín dụng hợp pháp giữa ngân hàng với khách hàng. 7 Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết: Nghĩa là KH chứng minh được nguồn thu nhập ổn định của cuộc sống, đảm bảo KH có đủ cơ sở vững chắc về tài chính để thực hiện được cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn. Thứ tư, khách hàng phải có phương án, dự án phục vụ đời sống khả thi: Vì bản chất của NHTM là tổ chức kinh doanh; trong đó, việc cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc sinh lời cơ bản nên dự án hay phương án mà NH tài trợ vốn phải đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng.