CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY 1. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 có nêu khái niệm về NHTM. Mặc dù Luật các TCTD năm 2024 đã được ban hành nhưng hiệu lực của Luật là ngày 01/7/2024 nhưng khái niệm về NHTM cũng không có sự thay đổi.
Theo khoản 23 Điều 4 Luật các TCTD năm 2024 ngày 18/01/2024, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động kinh doanh của NHTM Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác có liên quan. Hiện nay, hoạt động kinh doanh của NHTM ngày càng mở rộng nhằm đa dạng hóa hơn các sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nếu như trước đây một số NHTM vẫn hoạt động theo hình thức ngân hàng chuyên biệt thì hiện nay hầu hết các NHTM hoạt động theo hình thức ngân hàng đa năng.
Hoạt động kinh doanh của NHTM không dừng lại ở huy động vốn hay cho vay như các loại hình TCTD đơn giản khác mà phát triển ngày càng đa dạng hơn. Cũng giống như khái niệm NHTM, hoạt động kinh doanh của NHTM đã được nêu tại Luật các TCTD năm 2010 và theo Luật TCTD năm 2024 cũng không có nhiều thay đổi, cụ thể: Theo khoản 17 Điều 4 Luật các TCTD năm 2024 thì “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” trong đó “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi và hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho tổ chức, cá nhân gửi tiền (sau đây gọi là người gửi tiền)”. “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho 10 vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng”.
Trên thực tế, NHTM ngoài thực hiện hoạt động ngân hàng còn thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như: Dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ môi giới tiền tệ, dịch vụ kinh doanh ngoại hối và các dịch vụ khác như quản lý tài sản, tư vấn tài chính… nhằm đa dạng hóa dịch vụ và nâng cao hơn lợi nhuận cho ngân hàng. Những đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM NHTM có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác trong nền kinh tế, điều này giúp cho NHTM thể hiện được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là tài chính – tiền tệ, đây là lĩnh vực không chỉ nhạy cảm mà còn tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động, mọi chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, khi lĩnh vực này có những biến động xấu thì hoạt động kinh doanh của NHTM sẽ gặp khó khăn, ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của NHTM nói riêng mà còn ảnh hưởng đến những thiệt hại trong nền kinh tế.
Mặc khác, kinh doanh của NHTM là các sản phẩm, dịch vụ gắn liền với tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, đáp ứng các giao dịch phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến việc sử dụng tiền để đo lường, tính toán và thanh toán… Vì vậy, hoạt động ngân hàng luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía Chính phủ, NHNN và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan nhằm ổn định tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính có thể xảy ra. Thứ hai, Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh dựa vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ, uy tín của ngân hàng. Điều này giúp cho ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn từ công chúng và thực hiện quá trình chuyển hóa tài sản cụ thể là “đi vay và cho vay”. Do đó, khi lòng tin của khách hàng đối với NHTM giảm sút thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong huy động vốn, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng sẽ không được thiết lập và duy trì, đồng thời việc cung ứng các dịch vụ khác cũng gặp khó khăn.
11 Thứ ba, Hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể xuất hiện những rủi ro xuất phát từ những yếu tố khách quan như môi trường chính trị và luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa và xã hội, môi trường công nghệ hoặc từ các nguyên nhân chủ quan như từ phía ngân hàng hoặc từ phía khách hàng. Thứ tư, Hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu ảnh hưởng dây chuyền và mang tính hệ thống. Khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán hay phá sản sẽ ảnh hưởng không chỉ bản thân ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, ngành ngân hàng trong nước, hệ thống ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Chính vì thế, nền kinh tế càng phát triển sẽ làm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng sẽ phát triển theo.
Mặc dù, nền kinh tế tồn tại sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các ngân hàng nhưng mỗi ngân hàng hoạt động đều có tôn chỉ, mục đích riêng nhằm khẳng định vị thế của mình trên thị trường, cùng nhau tồn tại chứ không triệt tiêu lẫn nhau. Hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay Cũng giống như khái niệm đã được nêu tại Luật các TCTD năm 2010, theo khoản 7 Điều 4 Luật các TCTD năm 2024 có nêu “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay”. Điều kiện vay vốn Theo Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2023 quy định Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật; Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp; Có phương án sử dụng vốn khả thi; Có khả năng tài chính để trả nợ.
Lãi suất cho vay Theo Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định, cụ thể: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp NHNN Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa đối với những lĩnh vực, ngành nghề cụ thể: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ. Nội dung thỏa thuận về lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày) tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, tổ chức tín dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay. Trường hợp căn cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì tổ chức tín dụng áp dụng 13 mức lãi suất cho vay thấp nhất 1. Các hình thức cho vay 1. Căn cứ vào thời hạn cho vay Theo Điều 10 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định việc TCTD xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay như sau: Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm.