CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về tín dụng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại: 1. Khái quát về tín dụng doanh nghiệp: Tín dụng, xuất phát từ gốc chữ Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trong thực tế thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng.
Theo quan điểm của K.Marx:“Tín dụng là một quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [Karl Marx 1987, trang 100]. “Ngân hàng ra đời với vai trò trung gian là tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để các doanh nghiệp và cá nhân vay. Do đó, khi một ngân hàng cho khách hàng vay, bằng cách đó tạo nên sức mua cho họ thì không làm giảm sức mua của bất kỳ ai. Đó chính là nét nổi bật nhất trong vai trò của ngân hàng tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ” [Học viện ngân hàng, 2000].
Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng định nghĩa cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Qua các khái niệm trên thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung cơ bản: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng Sự chuyển nhượng này có thời hạn Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Tín dụng doanh nghiệp: 8 Theo Luật DN số 59/2020/QH14 được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 17/06/2020, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Có rất nhiều cách phân loại doanh nghiệp: theo hình thức sở hữu, doanh nghiệp gồm có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần; theo quy mô, doanh nghiệp được phân thành ba loại: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Từ những nội dung trên, theo quan điểm của luận văn, tín dụng doanh nghiệp được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và doanh nghiệp, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Đặc điểm tín dụng doanh nghiệp của các NHTM Tín dụng doanh nghiệp của các NHTM có những đặc điểm như sau: - Doanh nghiệp là tổ chức pháp nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp, mục đích vay vốn của các doanh nghiệp là để tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp không vay vốn và ngân hàng cũng không cho doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các mục đích về công ích hay phúc lợi xã hội; - Doanh nghiệp là Tổ chức quản lý kinh doanh và tài chính tương đối có hệ thống (so với khách hàng cá nhân), thu nhập từ cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập lãi, nên các doanh nghiệp thường nằm trong nhóm đối tượng khách hàng chiến lược của các NHTM; - Quy mô hoạt động kinh doanh và nhu cầu vốn lớn (so với cá nhân), Số lượng khách hàng doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số khách hàng vay vốn nhưng quy mô các món vay của khách hàng doanh nghiệp thường lớn nên dư nợ cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ của NHTM và do quy mô mỗi món vay của doanh nghiệp lớn và rủi ro cao nên các yêu cầu của ngân hàng đối với doanh nghiệp khi vay vốn thường khắt khe hơn đối với các đối tượng khách hàng khác. 9 - Nguồn trả nợ của các doanh nghiệp chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh được tài trợ bằng chính nguồn vốn vay của NHTM, vì vậy, các NHTM kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. - Hoạt động cho vay doanh nghiệp là hoạt động rất nhạy cảm với tình hình biến động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn chịu ảnh hưởng của tình hình thế giới 1.
Phân loại doanh nghiệp của các NHTM: Các doanh nghiệp với hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu tổ chức hoạt động khác nhau, quy mô khác nhau và ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau thì sẽ có các đặc điểm khác nhau, vì vậy các NHTM thường phân loại tín dụng doanh nghiệp dựa trên cơ sở chính là các tiêu thức để phân loại doanh nghiệp trong nền kinh tế. Có thể phân loại doanh nghiệp theo các tiêu thức như: - Căn cứ vào hình thức sở hữu, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; - Căn cứ vào hình thức pháp lý, doanh nghiệp được chia thành công ty TNHH (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, DNTN; - Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn và doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn; - Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp và xây dựng (bao gồm các ngành như khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải, xây dựng), doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại và dịch vụ (bao gồm các ngành như bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác, vận tải kho bải, dịch vụ lưu trú và ăn uống, thông tin và truyền thông, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, hoạt động kinh doanh 1 bất động sản, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ, hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ, giáo dục và đào tạo, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội, nghệ thuật, vui chơi và giải trí); - Căn cứ vào quy mô kinh doanh, có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ; - Căn cứ vào mục đích kinh doanh, có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh (vì mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp hoạt động công ích (không vì mục tiêu lợi nhuận). Các phương thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), các phương thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp bao gồm: Cho vay ngắn hạn: Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên hay theo thời vụ của các doanh nghiệp. Hai phương thức cho vay ngắn hạn thường được áp dụng phổ biến hiện nay gồm: + Cho vay từng lần, với phương thức này thì mỗi lần vay vốn, doanh nghiệp và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức: Ngân hàng và khách hàng cùng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm cơ bản của loại hình tín dụng này là một bộ hồ sơ được sử dụng cho nhiều món vay, món giải ngân khác nhau. Cho vay trung dài hạn: Mục đích của tín dụng trung dài hạn thường là đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc đầu tư vào dự án. Chiết khấu chứng từ có giá: Đây là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, ngân hàng nhận chuyển nhượng các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán và trao cho khách hàng một số tiền nhất định bằng mệnh giá của chứng từ trừ đi các khoản phí hoa hồng và lãi chiết khấu.
Loại chứng từ mà ngân hàng thường nhận chiết khấu là thương phiếu, ngoài ra còn có trái phiếu, kỳ phiếu, … Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở 1 hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Cho thuê tài chính có thể là phương cách tiếp cận tín dụng trung và dài hạn thuận lợi hơn đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, ít tài sản thế chấp hoặc mới thành lập. Bao thanh toán: Là một dạng tài trợ bằng việc mua các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ (bên mua nợ) và bên cung ứng (bên bán nợ). Bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vũ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận. Các hình thức bảo lãnh theo mục đích như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán… Tài trợ ngoại thương: Thông qua tiếp cận tài trợ ngoại thương, các doanh nghiệp có quan hệ kinh doanh xuất nhập khẩu có thể vay vốn ngân hàng phục vụ nhu cầu kinh doanh của mình. Tài trợ ngoại thương bao gồm các hoạt động tài trợ của ngân hàng, thực tế thường có các hình thức như: cho vay tiền – xuất khẩu (pre-export financing), cho vay chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, cho vay mở thư tín dụng… 1. Phát triển tín dụng doanh nghiệp của NHTM 1.