CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM a. Khái niệm về doanh nghiệp Trong đời sống kinh tế xã hội, doanh nghiệp là một thực thể kinh tế - xã hội, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, thực hiện chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa “Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, đặc tính để phân biệt doanh nghiệp với các thực thể kinh tế xã hội khác là: Thứ nhất: là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập; Thứ hai: doanh nghiệp được xác lập có tư cách pháp lý (thành lập và đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật); Thứ ba: hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Phân loại doanh nghiệp Phân loại căn cứ vào hình thức sở hữu doanh nghiệp: - Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên. Luan van 8 - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt nam hoặc là doanh nghiệp Việt nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sát nhập, mua lại.
- Doanh nghiệp khác: Bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân. Phân loại dựa trên tư cách pháp lý của doanh nghiệp: Doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân). Phân loại dựa trên mức độ chịu trách nhiệm đối với tài sản trong hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp: Doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn. Phân loại dựa trên cơ cấu chủ sở hữu và phương thức góp vốn vào doanh nghiệp: Doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp một chủ sở hữu (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh).
Ngoài ra, nếu căn cứ theo quy mô vốn và lao động: Có thể phân chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa lại được phân chia thành: doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Tín dụng NHTM đối với doanh nghiệp Khái niệm Về mặt ngữ nghĩa, thuật ngữ tín dụng có nguồn gốc từ chữ La-tinh "creditum", với nghĩa tin tưởng, tín nhiệm. Theo cách phát triển ngữ nghĩa này, tín dụng chính là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở tin rằng người vay sẽ hoàn trả số vốn đó cho người cho vay trong tương lai. Luan van 9 Trong quan hệ tài chính, tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định với điều kiện bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thuận hay là phương pháp chuyển dịch từ quỹ cho vay sang người đi vay hay là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế và cá nhân. Xét theo nghĩa rộng, tín dụng ngân hàng bao gồm cả việc khách hàng cho ngân hàng vay và ngân hàng cho khách hàng vay. Theo chức năng hoạt động của NH, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay; trong đó, bên cho vay chuyển dịch tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Về mặt hình thức: đó là một sự vay mượn kinh tế giữa ngân hàng và người đi vay là những tổ chức hay cá nhân, hộ gia đình.
Về mặt nội dung kinh tế, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có thể biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả theo những thỏa thuận trước giữa hai bên. Nội dung chính của sự thỏa thuận đó là: Thời hạn phải trả, số tiền lãi phải trả, cách thức phải trả. Phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM NHTM phân loại cho vay rất đa dạng, phụ thuộc vào các tiêu thức quản lý khác nhau: Luan van 10 - Theo thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 1 năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các DN và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. + Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm (theo quy định của Việt Nam) dùng để đầu tư mua sắm TSCĐ; cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ; mở rộng SXKD; xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 5 năm, tối đa có thể lên đến 20, 30 thậm chí 40 năm. Loại cho vay này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. - Theo đối tượng đầu tư: + Cho vay vốn cố định: các khoản cho vay để hình thành vốn cố định trong các DN. + Cho vay vốn lưu động: các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động.
- Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: + Cho vay có đảm bảo đối vật: là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên TSĐB (cầm cố, thế chấp). Các tài sản dùng đảm bảo nợ vay phải hội đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn định. Các hình thức cho vay có đảm bảo như: đảm bảo bằng các chứng khoán (GTCG), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hóa, bằng bất động sản. + Cho vay có đảm bảo đối nhân: là sự cam kết của một hay nhiều người về việc trả nợ NH thay cho khách hàng vay vốn khi khách hàng vay vốn không trả được nợ vay đến hạn.
Người đứng ra đảm bảo phải hội đủ hai điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực tài chính. Luan van 11 - Theo phương pháp hoàn trả: + Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng bao gồm như cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (cho vay phi trả góp), cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp) hoặc cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc cho vay theo kỹ thuật thấu chi. + Cho vay không có thời hạn cụ thể: là loại cho vay mà NH có thể yêu cầu KH trả nợ bất cứ lúc nào hoặc khách hàng tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý (theo hợp đồng) - Theo xuất xứ cho vay: + Cho vay trực tiếp: NH cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu và họ trực tiếp trả nợ vay cho NH. + Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng, máy móc nông nghiệp trả góp hay mua nợ.
Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của NHTM - Đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, phần lớn các DN vay vốn là để bổ sung nguồn vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển, đầu tư nâng cấp sửa chữa cơ sở hạ tầng… phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của DN. - Mỗi khoản cho vay được xác định một thời hạn trả nợ nhất định. Thời hạn trả nợ là bao lâu, nhanh hay chậm là do đặc điểm của vốn vay tham gia vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn của DN. - Nhu cầu vay vốn của DN rất đa dạng, thể hiện ở các kỳ hạn vay vốn khác nhau như ngắn, trung và dài hạn; hình thức vay vốn cũng khác nhau: cho vay Luan van 12 mua hàng dự trữ, cho vay vốn lưu động, các công trình xây dựng, kinh doanh chứng khoán, cho vay luân chuyển, cho vay theo dự án,… - Dư nợ cho vay khách hàng DN thường lớn hơn nhiều so với dư nợ cho vay KH cá nhân.
- Khác với cho vay khách hàng cá nhân mang tính chất tiêu dùng là chủ yếu thì cho vay khách hàng doanh nghiệp góp phần đầu tư phát triển kinh tế của đất nước. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM a. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cấp tín dụng là một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hết các NHTM tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm hơn 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng.
Tuy vây, rủi ro kinh doanh ngân hàng lại tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn thì nguyên nhân chủ yếu thường phát sinh từ hoạt động tín dụng. Có nhiều quan điểm về rủi ro tín dụng (RRTD) có thể dẫn ra say đây: Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.