chương 1 luật doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường [24]. Tùy theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể hiểu dưới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng,. Loại hình doanh nghiệp: Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà có các loại hình doanh nghiệp: - Thứ nhất, Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp có : + Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. + Công ty cổ phần : là doanh nghiệp, trong đó Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. + Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp 7 danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
+ Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Thứ hai, Căn cứ vào chế độ trách nhiệm : + Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn :là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó. Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.
+ Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn :Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP. Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp. Các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là một thành phần quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia trên toàn thế giới.
Ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực và nền kinh tế lại có cách xác định tiêu chí về nó khác nhau. Nếu như tại các quốc gia Châu Âu, DNNVV được phân loại dựa vào số lao động, doanh thu, lợi nhuận và vốn đầu tư; thì tại các nước châu Mỹ thì DNNVV được xác định dựa trên cả sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước; còn tại châu Á, DNNVV được phân loại dựa vào 3 tiêu chí cơ bản đó là số lao động, vốn đầu tư và doanh thu hàng năm. 8 Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp.
Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV.1 : Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 < $100,000 < $100,000 Nhỏ <50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa <300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10,000 < Nhỏ $100,000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn:[9,tr.27] Ở Việt Nam, xác định quy mô DNNVV dựa vào 2 chỉ tiêu cơ bản gồm số lượng lao động và vốn đầu tư hoặc theo doanh thu hàng năm. Tùy theo điều kiện từng ngành kinh tế (Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) lại có sự khác biệt trong quy ước về số lượng vốn và lao động. Theo điều 6, nghị định số 39/2018/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có thay đổi một số điểm so với quy định tại điều 3 nghị định 56/2009 CP [1]; [4], chủ yếu là thay đổi về số lao động của DN vừa.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại Việt Nam Quy mô DN Siêu nhỏ DN Nhỏ DN vừa Tổng số Số lao Tổng số Số lao Tổng số Số lao Khu vực vốn, DT động vốn, DT động vốn, DT động Vốn từ 20 Từ Vốn dưới 3 Vốn dưới tỷ đến 100 Nông lâm tỷ đồng, 20 tỷ đồng Từ 10 10 người 100 tỷ đến nghiệp và hoặc DT hoặc DT đến 100 trở xuống hoặc DT dưới thủy sản dưới 3 tỷ dưới 50 tỷ người dưới 200 200 đồng đồng tỷ đồng người Vốn từ 20 Từ Vốn dưới Vốn dưới tỷ đến 100 3tỷ đồng 20 tỷ đồng Từ 10 Công nghiệp 10 người 100 tỷ đến hoặc DT hoặc DT đến 100 và xây dựng trở xuống hoặc DT dưới dưới 3 tỷ dưới 50 tỷ người dưới 200 200 đồng đồng tỷ đồng người Vốn từ 20 Vốn dưới 3 Vốn dưới Từ 50 tỷ đến tỷ đồng 50 tỷ đồng Từ 10 đến Dịch vụ, 10 người 100 tỷ hoặc DT hoặc DT đến 50 dưới thƣơng mại trở xuống hoặc DT dưới 10tỷ dưới 100 người 100 dưới 300 đồng tỷ đồng người tỷ đồng Nguồn: Nghị định số: 39/2018/NĐ-CP [4] Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam, DNNVV quy định : Doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Điều 6 Nghị định này; có nghĩa là DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định 10 pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) [4]. Đặc điểm, vai trò doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm DNNVV là bộ phận quan trọng không thể thiếu trong cộng đồng doanh nghiệp của nền kinh tế; Với các tiêu chí phân loại khác nhau của các quốc gia, nhưng nhìn chung đều có các đặc điểm sau [26,tr.
Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn nhỏ, thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, nhất là ở các nước đang phát triển. Đây chính là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng. Thứ hai,DNNVVchịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình tham gia hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, Vậy nên, các DNNVV ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, với nguồn vốn nhỏ hẹp, DNNVV thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn. Thứ tư, DNNVV có thể phát huyđược tiềm lực trong nước DNNVV rất có lợi thế trong tuyển dụng lao động tại địa phương và tận dụng các tài nguyên, nguyên liệu sản xuất sẵn có tại địa phương, phát huy hết tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh. Thứ năm, Năng lực quản trị điều hành, quản trị tài chính của DNNVV còn nhiều hạn chế. Tại Việt Nam phần lớn DNNVV hoạt động sản xuất kinh doanh manh mún, tự phát, quản lý mang tính giađình, tự điều hành là chủ yếu, thiếu sự 11 liên kết trong ngành nghề, hiệp hội.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạch định chiến lược kinh doanh, và quản trị nội bộ, bố trí và sử dụng các nguồn lực đạt hiệu quả thấp. Vai trò DNNVV có vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia; hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế trong tất cả các ngành từ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ. Ở mỗi cấp độ của nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau vai trò DNNVV cũng được thể hiện ở các mức độ khác nhau. Một là, DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyền dịch cơ cấu kinh tế.
Nền kinh tế bao phủ cả những vùng sâu, vùng xa, là những vùng kém phát triển, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng chưa phát triển.