CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ TRÁI PHIẾU KÈM QUYỀN MUA NHÀ ĐẤT 1. KHÁI NIỆM VỀ TRÁI PHIẾU VÀ CHỨNG KHẾ 1. Khái niệm về trái phiếu Theo Luật Chứng khoán Việt Nam số 70/2006/QH11, TP là một loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Theo Từ điển Kinh tế Tài chính Ngân hàng, TP là một chứng khoán tài chính do một xí nghiệp hoặc chính phủ phát hành như một công cụ vay nợ dài hạn.
Các TP được phát hành tiêu biểu là TP dài hạn. Chúng được hoàn trả khi đáo hạn với một lãi suất ký danh cố định (theo phiếu lãi của chứng khoán – coupon). Một khi các TP đã được phát hành theo giá trị ký danh, lúc đó giá trị thị trường sẽ thay đổi để giữ cho lãi suất TP có hiệu quả phù hợp với lãi suất hiện hành. Ngoài vai trò như là phương tiện tín dụng, các nhà chức trách tiền tệ dùng các TP của Nhà nước như là phương tiện điều tiết cung tiền tệ.
Ví dụ, nếu muốn giảm cung tiền tệ, họ có thể phát hành các TP cho dân chúng, do đó giảm bớt khả năng thanh khoản của hệ thống Ngân hàng vì khách hàng sử dụng séc để rút tiền tại các ngân hàng thương mại để mua TP. Theo các tài liệu hiện hành về Thị trường chứng khoán Việt Nam, TP là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn trả lại vốn gốc cho người nắm giữ TP tại thời điểm đáo hạn. Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của TP và tỷ suất lãi TP. * Đặc điểm cơ bản của trái phiếu: - Nếu như người mua cổ phiếu công ty là người chủ sở hữu công ty thì người mua TP là chủ nợ đối với công ty.
- Ðược hưởng lãi cố định và tỷ suất lãi TP không cao nhưng không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - TP chứa đựng ít rủi ro hơn so với các loại hàng hóa khác trên thị trường chứng khoán. - Ðược thu hồi vốn gốc bằng với mệnh giá của TP tại thời điểm TP đáo hạn. - Khi công ty bị giải thể, các trái chủ được hoàn trả khoản nợ trước các cổ đông của công ty.
- Một đặc điểm quan trọng nữa của TP mà đây chính là lý do mà các doanh nghiệp lựa chọn TP làm phương thức huy động vốn, đó là: sử dụng tài trợ thông qua TP chính là doanh nghiệp đã sử dụng đòn bẩy tài chính và phát huy vai trò của tấm chắn thuế. Đòn bẩy tài chính là một vấn đề mang tính hai mặt đối với công ty khi sử dụng nguồn tài trợ này. Một thay đổi trong EBIT sẽ được phóng đại thành một thay đổi lớn hơn trong thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) hay tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là khi EBIT tăng thì EPS sẽ tăng nhiều hơn, và tương tự khi EBIT giảm thì EPS cũng sẽ giảm đi nhiều hơn.
Có thể đưa ra nhận định như thế này: một thay đổi tích cực hay tiêu cực của EBIT sẽ có tác động rất tích cực hoặc rất tiêu cực đối với EPS của doanh nghiệp. Thêm nữa, chi phí sử dụng vốn thông qua phát hành TP là chi phí không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, phát hành TP là doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả của tấm chắn thuế. Tùy thuộc vào thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của các quốc gia mà giá trị của tấm chắn thuế sẽ cao hay thấp một cách tương ứng.
Các nội dung liên quan đến trái phiếu 1. Các thành tố của một trái phiếu Dù là bất cứ loại TP nào thì trên mỗi TP đều có những nhân tố chính cơ bản như sau: - Tổ chức phát hành: Là tổ chức có quyền và các nghĩa vụ liên quan đến TP (trong đó quan trọng nhất là nghĩa vụ thanh toán các khoản lãi và gốc) - Mệnh giá TP: Tại Việt Nam, TP thường có mệnh giá là bội số của 100. - Thời hạn của TP: là khoảng thời gian từ khi TP được phát hành cho đến khi TP đáo hạn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Lãi suất: là lãi được trả định kỳ cho TP, thường được qui định theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá.
Lãi suất TP có thể được quy định cố định hoặc thả nổi theo lãi suất thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị trái phiếu TP là một loại hàng hóa được lưu thông trên TTCK. Chính vì vậy, cũng như các loại hàng hóa khác, giá của TP được quyết định bởi cung cầu TP. Và chính các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu TP là các nhân tố ảnh hưởng đến giá của TP.
* Thực trạng của tổ chức phát hành Tại các nước phát triển trên thế giới, hệ số định mức tín nhiệm chính là một chuẩn mực cho sự lựa chọn của nhà đầu tư. Thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm, các nhà đầu tư sẽ thẩm định được về mức độ rủi ro khi quyết định lựa chọn đầu tư vào trái phiếu. Còn đối với tổ chức phát hành, một kết quả xếp hạng tốt sẽ tạo thuận lợi cho đợt phát hành như: có thể phát hành TP với lãi suất thấp (do rủi ro thấp) mà vẫn thu hút được nhà đầu tư, gia tăng tính thanh khoản cho TP, tiết kiệm chi phí cho đợt phát hành. Kết quả xếp hạng định mức tín nhiệm được thể hiện dưới hình thức các ký hiệu từ A (tốt nhất, ít có khả năng vỡ nợ nhất) cho đến D (xấu nhất, vỡ nợ rồi) căn cứ vào khả năng thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính của các tổ chức phát hành các công cụ nợ.
Ngoài việc dựa vào hệ số định mức tín nhiệm để đưa ra quyết định đầu tư, thì nhà đầu tư còn căn cứ vào thực trạng và hiệu quả họat động của tổ chức phát hành. Thực trạng hoạt động kinh doanh tốt, những triển vọng trong tương lai, những chiến lược kinh doanh khả thi, một đội ngũ lãnh đạo chuyên nghiệp. chính là một sự cam kết đảm bảo về khả năng thanh toán cho các TP phát hành. * Thời hạn của trái phiếu: TP có thời hạn càng dài thì lãi suất TP càng cao, giá TP càng giảm.
Ngược lại, TP có thời gian đáo hạn càng gần thì lãi suất càng thấp, giá càng tăng do rủi ro trong ngắn hạn thường thấp, có khả năng dự báo và kiểm soát được bởi các nhà đầu tư. * Lạm phát: Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì với yêu cầu là lãi suất TP phải thực dương, lãi suất TP phải tăng để đảm bảo yêu cầu này. Và như vậy, giá TP sẽ giảm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 * Biến động lãi suất thị trường Đây là một yếu tố quan trọng.
Khi lãi suất thị trường tăng thì nguồn vốn sẽ đổ vào các kênh huy động vốn với lãi suất thị trường cao. Lúc này, TP với lãi suất cố định sẽ không hấp dẫn nữa do không phản ánh được diễn biến lãi suất trên thị trường và do đó giá của các TP này sẽ giảm. * Tỷ giá hối đoái Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp các loại TP có mệnh giá phát hành bằng ngoại tệ. Các loại rủi ro đầu tư trái phiếu * Rủi ro lãi suất Giá của một TP điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất: khi lãi suất tăng thì giá TP sẽ giảm; khi lãi suất giảm thì giá sẽ tăng.
Nếu nhà đầu tư phải bán TP trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãi suất tăng thì nhà đầu tư đó sẽ bị lỗ vốn, tức là bán TP dưới giá mua. Rủi ro này gọi là rủi ro lãi suất hay rủi ro thị trường. Tất cả các loại TP trừ TP có lãi suất thả nổi, đều phải chịu loại rủi ro này. Mức độ nhạy cảm của giá TP trước những thay đổi của lãi suất thị trường phụ thuộc vào những đặc tính khác nhau của đợt phát hành như lãi cuống phiếu, thời gian đáo hạn.
* Rủi ro tái đầu tư: Phép tính lợi suất của một TP được giả định rằng các dòng tiền nhận được sẽ được tái đầu tư. Khoản thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó (còn gọi là lãi của lãi) phụ thuộc vào lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu tư. Khả năng thay đổi lãi suất tái đầu tư của một chiến lược xác định do sự thay đổi của lãi suất thị trường, dẫn tới tính không chắc chắn của dòng lợi tức dự kiến nhận được từ TP, gọi là rủi ro tái đầu tư. * Rủi ro thanh toán Còn được gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà tổ chức phát hành có thể bị vỡ nợ, mất khả năng thanh toán các khoản gốc và lãi của đợt phát hành.
Rủi ro thanh toán được xác định bằng mức xếp hạng chất lượng tín nhiệm do các công ty định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mức tín nhiệm ấn định, căn cứ vào các điều khoản trong khế ước vay, khả năng thu nhập và hệ số trang trải nợ, khả năng thanh khoản và trình độ quản lý của công ty. Tuy nhiên mức xếp hạng tín nhiệm có thể thay đổi sau khi công ty phát hành TP. * Rủi ro lạm phát Còn gọi là rủi ro sức mua, phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền từ đầu tư TP do lạm phát mang lại, làm thay đổi sức mua. * Rủi ro tỷ giá hối đoái Nếu TP được thanh toán bằng đồng đôla Mỹ, mà đồng Việt Nam lại giảm giá so với đôla Mỹ thì nhà đầu tư sẽ nhận được ít đô la Mỹ hơn.
Đó là rủi ro tỷ giá. * Rủi ro thanh khoản Loại rủi ro này tùy thuộc vào việc TP có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không. Thước đo chủ yếu đới với tính thanh khoản là độ lớn khoảng cách giữa giá hỏi mua và giá chào bán được niêm yết trên thị trường trong các phiên giao dịch. Nếu nhà đầu tư có ý định nắm giữ TP cho đến khi đáo hạn thị loại rủi ro này không quan trọng lắm.
Phân loại trái phiếu Có rất nhiều loại TP cơ bản. Dựa vào những căn cứ phân loại khác nhau mà TP được phân thành nhiều loại khác nhau.