Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thị trường mỹ thuật. Chương 2: Thực trạng thị trường mỹ thuật TP. Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường mỹ thuật TP. 7 ƯƠ 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ RƯỜNG MỸ THUẬT 1.
Các khái niệm về vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm về “Mỹ thuật” Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2013, ở trang 1.033 thì mỹ thuật (Mĩ thuật) là “là ngành nghệ thuật phản ảnh cái đẹp bằng sắc màu, đường nét, hình khối [11, tr. Đây là một thuật ngữ dùng để chỉ các thể loại nghệ thuật như: Hội họa, Đồ họa, Điêu khắc. Theo một cách nhìn khác, thuật ngữ “mỹ thuật” còn được dùng để chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được.
Từ góc độ này, các tác giả trong cuốn Từ điển tiếng Việt, do Nxb Tử điển Bách Khoa ấn hành năm 2014 thì “Mỹ thuật là miếng nghề khéo léo như vẽ, nặn tượng, sơn mài. Vì lý do này người ta còn dùng thuật ngữ “nghệ thuật thị giác” để nói về mỹ thuật như sau: Hội họa: Nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách trực tiếp, các tác phẩm hội họa mang tính độc bản. Hội họa được coi là mảng quan trọng trong mỹ thuật. Đồ họa: Nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp, qua các kỹ thuật in ấn.
Vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao. Điêu khắc: Nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (chạm khắc, chạm nổi). Trên đây là những khái niệm về mỹ thuật được hiểu theo nhiều nghĩa, tuy nhiên khái niệm mỹ thuật được hiểu theo nghĩa hàn lâm được cho là khái niệm cơ bản nhất và là cơ sở để đánh giá các tác phẩm mỹ thuật. Tuy vậy, hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được xem là thuộc về mỹ thuật.
Kể cả những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960 bao gồm: Nghệ thuật sắp đặt (Installation art), Nghệ thuật biểu diễn (Performance art), Nghệ thuật hình thể (Body art), Nghệ thuật đại chúng (Pop art). Khái niệm về “Thị trường”, “Thị trường mỹ thuật” 1. Khái niệm “Thị trường” Thị trường là thuật ngữ xuất hiện khi nền kinh tế hàng hóa được hình thành và phát triển. Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải cho người sản xuất tiêu dùng mà để bán.
Trên cơ sở đó, thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Người có hàng hoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi gọi là bên bán, người mua có nhu cầu và có khả năng thanh toán được gọi là bên mua. Trong quá trình trao đổi giữa bên bán và bên mua đã hình thành những mối quan hệ nhất định như quan hệ giữa người bán – người mua, người bán – người bán, người mua – người mua. Vì vậy, theo nghĩa đen, có thể hiểu thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua – bán hàng hoá giữa người có hàng hóa và người có nhu cầu sử dụng hàng hóa, trong đó tiền là vật ngang giá chung trong hầu hết mọi giao dịch.
Trên cơ sở quan điểm này, các học giả trong cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 4)" quan niệm: “Thị trường là bất kỳ khung cảnh nào mà trong đó diễn ra việc mua và bán các loại hàng hóa, dịch vụ, thể hiện toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực trao đổi và tiêu thụ hàng hóa" [4, tr. Cụ thể hơn, tác giả Nguyễn Lân cho rằng thị trường có ba nghĩa chính là "1- Nơi tiêu thụ hàng hóa. 2– Việc trao đổi hàng hóa. 3– Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các thương nhân, các tập đoàn.
Đồng quan điểm trên, các tác giả trong công trình “Đại Từ điển Tiếng Việt" do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng cho rằng thị trường là “hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa nói chung. Nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hóa" [30, tr.557]; hoặc theo các học giả của tài liệu “Thuật ngữ Quản lý văn hóa nghệ thuật" thì: “Thị trường là các định chế tạo điều kiện cho việc diễn ra các hoạt động trao đổi thông qua mua bán hoặc bán đấu giá" [28, tr. Từ các khái niệm trên cho thấy, cơ cấu của thị trường theo kinh tế học là bao gồm: đối tượng trao đổi là sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ; đối tượng tham gia trao đổi là bên bán và bên mua; điều kiện thực hiện trao đổi là khả năng thanh toán. Như vậy, điều quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị 9 trường là xác định chính xác nơi trao đổi, nhu cầu và khả năng thanh toán của các nhóm khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ mà nhà sản xuất dự định cung ứng.
Trong khi đó, người tiêu dùng lại quan tâm tới việc so sánh những sản phẩm dịch vụ mà nhà sản xuất cung ứng có thể thoả mãn nhu cầu và thích hợp với khả năng thanh toán của mình đến đâu. Như vậy, vấn đề lớn nhất của thị trường là sự gặp nhau giữa nhu cầu của người tiêu dùng với đặc tính và giá cả sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất, cung cấp. Do đặc trưng hoạt động của thị trường là phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của nhà sản xuất, vì vậy, quan hệ cung – cầu là quan hệ cơ bản nhất của một thị trường. Bên cạnh đó, cùng với quy luật giá trị, quy luật cung – cầu tạo thành mạng lưới quy luật kinh tế, điều phối mọi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Khái niệm “Thị trường mỹ thuật”: Trên cơ sở các khái niệm về thị trường nói chung như đã phân tích ở trên, có thể thấy thị trường là một nhánh quan trọng, năng động, phát triển của nền kinh tế văn hoá và sáng tạo. Tuy nhiên làm thế nào có thể mô tả các cấu trúc phức tạp của thị trường cũng như đối tượng nào là những “diễn viên” có ảnh hưởng trên “sân khấu” của thị trường mỹ thuật. Đã có nhiều cơ sở lí luận được đưa ra không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên cả thế giới nhằm định nghĩa về thị trường mỹ thuật. Trưởng khoa Lịch sử Mỹ thuật của trường đại học Buckingham, Anh Quốc, Jeremy R.
Howard, đã định nghĩa: Thị trường mỹ thuật, địa điểm hữu hình hay vô hình là nơi các tác phẩm nghệ thuật được mua hoặc bán. Ở mức cơ bản nhất, thị trường mỹ thuật đòi hỏi một tác phẩm nghệ thuật, mà tác phẩm đó được đưa ra từ một loạt các đối tượng như nhà sưu tập, người bán, người mua, những người có thể tham gia trực tiếp vào các cuộc giao thương hoặc được đại diện bởi các đại lí. [34] Stuart Plattner, Giám đốc Chương trình Nhân chủng học Văn hóa, Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, trong bài viết “A Most Ingenious Paradox: The Market for Contemporary Fine Art (tạm dịch: Một nghịch lí khéo léo nhất: Thị trường mỹ thuật đương đại)” đã nêu: Thị trường mỹ thuật là nơi hoạt động theo mô hình kinh tế xem xét nhiều hơn là mô hình kinh tế giữa cung và cầu: nó là một loại thị trường dự 10 đoán, nơi nghệ thuật được mua và bán với giá trị không chỉ dựa trên giá trị văn hóa nhận thức của tác phẩm, mà còn dựa trên giá trị tiền tệ của tác phẩm trong quá khứ cũng như dự đoán trong tương lai. Thị trường đã được mô tả là nơi các “nhà sản xuất” các tác phẩm không làm việc với mục đích chủ yếu để bán, nơi người mua thường không biết về giá trị của những gì họ đã mua và là nơi những người trung gian thường xuyên yêu cầu bồi hoàn cho việc bán những thứ họ chưa từng nhìn thấy tận mắt cho người mua mà họ chưa bao giờ đối mặt.
[40] Thị trường mỹ thuật là một khái niệm tương đối rộng và có nhiều cách nhìn nhận riêng biệt nếu đứng trên những phương diện khác nhau để xem xét. Cụ thể hơn chúng ta có thể thống nhất cho thị trường mỹ thuật khái niệm như sau: Thị trường mỹ thuật, nói theo nghĩa đen, chính là một địa điểm hữu hình hay vô hình, nơi mà nghệ thuật được đem ra để mua và bán. Tại nơi đó, người mua (các nhà sưu tập, công chúng có nhu cầu thưởng thức nghệ thuật) và người bán (họa sĩ sáng tác nghệ thuật) có thể trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp hay được giới thiệu lại thông qua trung gian (các nhà môi giới, nhà quản lý, doanh nghiệp đầu tư,…). Thị trường mỹ thuật có thể chia làm hai loại: thị trường nghệ thuật sơ cấp và thị trường nghệ thuật thứ cấp.
[15] Thị trường sơ cấp là nơi họa sĩ hay các chủ phòng tranh bán trực tiếp cho người mua. Sau khi được bán thành công trong thị trường nghệ thuật sơ cấp, tác phẩm đó có thể tiếp tục được bán thành công một lần nữa. Giai đoạn mua bán lần thứ hai này được gọi là thị trường nghệ thuật thứ cấp. Trong thị trường nghệ thuật thứ cấp, sẽ lại có những người khác đóng vai trò chủ chốt gây ảnh hưởng đến nó.
Có thể thấy, nhân tố đóng vai trò quan trọng trong thị trường nghệ thuật nói chung và thị trường mỹ thuật nói riêng chính là họa sĩ. Họ không chỉ sản xuất các tác phẩm nghệ thuật cho thị trường, mà còn là những người “chơi” trong thị trường đó. Họa sĩ đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng tiếng tăm và tiến cử tác phẩm của mình. Bởi lẽ ít có họa sĩ nào thành danh mà không đi từ gallery do mình quản lý hay nhờ hiệp hội nghệ sĩ đến các gallery của những nhà buôn tranh.
Mặt khác, họa sĩ còn ảnh hưởng đến gallery và những người buôn tranh khi đề xuất các tác phẩm 11 của họa sĩ khác. Rõ ràng việc hình thành những họa sĩ độc lập và chuyên nghiệp đã góp phần làm cho đời sống mỹ thuật càng thêm sôi động và phong phú. Họa sĩ có vai trò tích cực tìm tòi cái mới để ra mắt công chúng và chịu trách nhiệm trực tiếp tác phẩm của mình. Tuân thủ và đảm bảo các điều khoản trong hợp đồng với các gallery, đấy chính là phong cách làm việc chuyên nghiệp mà họa sĩ thời kì hội nhập cần có.