Chương 1: Tổng quan về phát triển thanh toán thẻ tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển thanh toán thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang; Chương 3: Giải pháp phát triển thanh toán thẻ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang. 12 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về thanh toán thẻ của ngân hàng thƣơng mại 1. Sự hình thành và phát triển của thẻ thanh toán Năm 1946, thẻ thanh toán đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg-It", do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra.
Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả tiền cho nhà kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Điểm trừ là loại thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng (Bảo Duy, 2017). Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời.
Một doanh nhân ăn tối tại nhà hàng ở New York nhưng lại quên mang ví, dẫn đến ý tưởng thành lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. Năm 1958, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ Bank Americard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới.
Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) được thành lập bởi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia.
Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngoài ra, còn nhiều nhà tổ chức thẻ 13 khác là American Express, Diners Club. cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn.
Cũng trong năm 1966, chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên xuất hiện trên thị trường ngân hàng Mỹ, do Ngân hàng Delaware phát hành. Đến những năm 1970, có nhiều ngân hàng cũng đưa ra ý tưởng tương tự. Và đến ngày nay, toàn thế giới đã có hàng chục tỷ chiếc thẻ ngân hàng các loại đang được lưu hành (Bảo Duy, 2017). Tại Việt Nam, từ năm 1993, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai thanh toán thẻ đầu tiên tại Việt Nam, đặt viên gạch đầu tiên xây dựng hoạt động TTKDTM nói chung, sử dụng thẻ thanh toán nói riêng tại Việt Nam.
Khi đó, chiếc thẻ nội địa đầu tiên cũng được Vietcombank phát hành nhưng không được triển khai rộng rãi. Đến năm 2002, chiếc thẻ ghi nợ nội địa (hay được biết đến với tên gọi là thẻ ATM) mới được Vietcombank chính thức ra mắt. Tiếp đến, những chiếc thẻ tín dụng quốc tế đầu tiên của Việt Nam được Vietcombank và Ngân hàng Á Châu (ACB) phát hành vào năm 1996. Đến nay, hầu hết tất cả các NHTM đều triển khai sản phẩm này và số lượng người dùng cũng gia tăng nhanh chóng.
Không chỉ đầu tư đa dạng sản phẩm thẻ, các NHTM tại Việt Nam ngày một chú trọng đến tính an toàn và không ngừng nâng cấp về mặt công nghệ. Vì lẽ đó mà đến năm 2009, thẻ quốc tế chuẩn EMV lần đầu được Vietcombank phát hành. EMV là tên kết hợp 3 chữ cái đầu tiên của 3 tổ chức phát hành thẻ hàng đầu thế giới là: Europay, MasterCard, Visa. EMV đưa ra các tiêu chuẩn, yêu cầu tối thiểu cho các hệ thống thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ dựa trên công nghệ thẻ thông minh (Thế Đạt, 2019).
Khái niệm thẻ thanh toán Nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm liên quan đến thẻ ngân hàng như: Theo Phan Thị Thu Hà (2013): “thẻ là một hình thức thanh toán hiện đại, do ngân hàng phát hành theo yêu cầu của khách hàng, dùng để rút tiền mặt hoặc chuyển khoản tại máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ (POS)”. 14 Theo Nguyễn Văn Tiến (2013): “thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp, dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Bao gồm các loại thẻ như sau: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ ATM và thẻ ghi nợ”. Trần Thị Xuân Hương (2013) cho rằng: “thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do các ngân hàng, các định chế tài chính phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ như nạp, rút tiền mặt tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc chuyển khoản.
Theo đó, thanh toán bằng thẻ là việc chủ thẻ sử dụng thẻ để thực hiện việc thanh toán tại các điểm mua hàng hóa, dịch vụ”. Theo Nguyễn Thị Phương Hảo và cộng sự (2017): “thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Thẻ ngân hàng có chức năng sử dụng đa năng. Chủ thẻ có thể kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hoá, tiền tệ, được thoả thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thoả mãn nhu cầu của mình”.
Trong phạm vi luận văn này, thẻ thanh toán có thể được hiểu như sau: “thẻ thanh toán là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp”. Vai trò và tiện ích của thẻ thanh toán Thẻ thanh toán của NHTM có vai trò đối với nền kinh tế, đối với các NHTM và đối với khách hàng (người sử dụng thẻ), cụ thể như sau: 1. Đối với nền kinh tế - Góp phần giảm khối lượng tiền mặt lưu trong, từ đố tiết giảm chi phí xã hội Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Thẻ ngân hàng hút tiền gửi của các 15 tầng lớp dân cư vào NHTM và giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần giảm chi phí phát hành tiền giấy, vận chuyển, lưu trữ cũng như tiêu hủy tiền.
- Tăng khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế Hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến nên tốc độ chu chuyển thanh toán nhanh hơn nhiều so với các phương tiện thanh toán khác. Do đó, thẻ ngân hàng góp phần tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ, tăng cường vòng quay của đồng tiền, khơi thông các luồn vốn khác nhau, giúp kiểm soát khối lượng giao dịch của dân cư và của nền kinh tế. Điều này tạo điều kiện cho việc tính toán lượng tiền cung ứng và việc điều hành, thực thi chính sách tiền tệ của NHNN đạt hiệu quả cao. - Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước Trong dịch vụ thẻ, các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của các ngân hàng, do đó, có thể hạn chế và giảm thiểu những tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế ngầm, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành các chính sách kinh tế, tài chính quốc gia.
Đối với hệ thống ngân hàng - Góp phần thu hút khách hàng Nhờ vào những tiện ích mà thẻ ngân hàng mang lại cho khách hàng, dịch vụ này có vai trò quan trọng trong việc thu hút, giữ chân khách hàng cho các NHTM. Thông thường, khi khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ thì sẽ kéo theo các dịch vụ khác, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, chẳng hạn như dịch vụ tài khoản thanh toán, tiết kiệm, tín dụng, NHĐT,…Ngoài ra, với những khách hàng đã từng có quan hệ với kháchh hàng, dịch vụ thẻ còn có vai trò giữ chân khách hàng. Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ này thì khách hàng sẽ không cần phải tìm đến dịch vụ của các NHTM khác. Hơn nữa, dịch vụ thẻ với biểu hiện về một hình thức thanh toán của một xã hội văn minh, hiện đại, tiện nghi sẽ ngày càng chiếm được sự hài lòng và niềm tin của khách hàng.
- Góp phần tạo lợi nhuận cho ngân hàng Cùng với các hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh thẻ góp phần tạo ra lợi 16 nhuận cho NHTM thông qua một số khoản thu như sau: Lãi cho vay: đối với thẻ tín dụng, nó không chỉ đơn thuần là dịch vụ thanh toán mà nó còn lại một dịch vụ cho vay với mức an toàn cao. Thông thường vào cuối tháng, khách hàng sẽ nhận sao kê chi tiêu, trong đó, ghi rõ số tiền đã sử dụng và số tiền tối thiểu phái hoàn lại cho NHTM. Trường hợp khách hàng không thanh toán hết, thì số dư nợ còn lại sẽ được tính lãi như một khoản vay ngân hàng. Đây cũng là một khoản thu không nhỏ mang lại cho các NHTM.
Các loại phí, lệ phí: các khoản phí và lệ phư phí phát hành thẻ, phí duy trì hằng năm, phí sử dụng các dịch vụ thẻ (thanh toán, tra soát thông tin, chuyển khoản, rút tiền mặt,…), hay các loại phí mà NHTM thu từ các đơn vị chấp nhận thẻ cũng là một nguồn thu không nhỏ mà dịch vụ thẻ mang lại cho các NHTM. - Góp phần cải thiện công tác thanh toán của NHTM Hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM đã tạo điều kiện cho cả NHTM và khách hàng có thể tự động hóa các giao dịch, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, nâng cấp chất lượng dịch vụ.