Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực KTVNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chương 2: Phương pháp và kết quả nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực KTV tại KTVNN khu vực I Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực KTV của KTNN khu vực I trong bối cảnh hội nhập quốc tế 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN VIÊN NHÀ NƢỚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực KTV của KTNN dưới nhiều góc độ khác nhau như: "Xây dựng phương thức và nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ công chức Kiểm toán nhà nước" của Nguyễn Đình Hựu [14], đã đánh giá nội dung, chương trình đào tạo của cơ quan Kiểm toán nhà nước và đề cập đến vấn đề làm thế nào để xây dựng được bộ tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo cán bộ, KTVNN ở Việt Nam nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTVNN. Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu ở giai đoạn đầu thành lập cơ quan Kiểm toán nhà nước nên mới chỉ chủ yếu đề cập đến xây dựng được bộ tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo cán bộ, KTVNN ở Việt Nam phù hợp với loại hình kiểm toán báo cáo tài chính, chưa đi sâu phân tích về loại hình kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động; phương thức và chương trình đào tạo còn chung chung chưa cụ thể đối với từng ngạch KTVNN. “Chất lượng nguồn nhân lực KTV của Kiểm toán Nhà nước”, Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Hà Thị Mỹ Dung, 2015, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh[7].
Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kiểm toán nhà nước, cơ quan Kiểm toán nhà nước, nhằm thống nhất nhận thức về khái 5 z niệm và đặc điểm của nghề kiểm toán nhà nước cũng như của cơ quan Kiểm toán nhà nước. Áp dụng và đưa ra khái niệm và nội dung điều chỉnh, chỉ rõ đặc điểm và vai trò của KTVNN; xác lập các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực KTVNN. Nghiên cứu yêu cầu, tiêu chí đối với KTVNN của một số nước và theo quy định của Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao để rút ra những bài học tham khảo cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTVNN Việt Nam. Làm rõ thêm những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực KTVNN và đề xuất định hướng, các nhóm giải pháp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTVNN Việt Nam.
“Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, KTV theo định hướng Chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020” của Đoàn Xuân Tiên [6] đã làm rõ thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, KTV của cơ quan Kiểm toán nhà nước trong những năm qua và những khó khăn, bất cập, nguyên nhân để từ đó đề ra các giải pháp khá toàn diện về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, KTVNN theo định hướng chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020. “Giải pháp tăng cường chất lượng công tác kiểm soát đạo đức nghề nghiệp KTVNN” của Đặng Văn Thanh [5] đã đánh giá một cách khách quan, đầy đủ thực trạng kiểm soát đạo đức nghề nghiệp KTVNN và vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam; hình thành lý luận, phương pháp luận, định hướng và chính sách, giải pháp kiểm soát đạo đức nghề nghiệp KTVNN và vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam phục vụ có hiệu quả tiến trình đổi mới đất nước. Đề tài cũng khẳng định KTV là những người kiểm tra, đánh giá thông tin nên phải có một trình độ chuyên môn nhất định. Bởi vậy, khi tiến hành các cuộc kiểm toán, cơ quan Kiểm toán nhà nước phải chia ra các bộ phận, mỗi bộ phận đi sâu vào từng 6 z lĩnh vực.
KTVNN phải có những hiểu biết về pháp luật, phải có nhân cách về chính trị. Trước một số liệu, thông tin, một ý kiến không thuần túy là vấn đề chuyên môn mà còn gắn nó với điều kiện, tình hình thực tế. Vì thế, KTVNN ngoài năng lực, kỹ năng chuyên môn phải có đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp. Để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho Nhà nước có chất lượng cao nhất, KTVNN cần phải tuân thủ các yêu cầu có tính nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp, KTVNN phải luôn duy trì được tính độc lập, trung thực, khách quan trong quá trình kiểm toán.
“Ngành kiểm toán đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực đạt trình độ quốc tế” của Bùi Văn Mai, [1] đã khẳng định ngành kiểm toán của Việt Nam phát triển nhanh chóng; nguồn nhân lực KTV Việt Nam chưa phải là giỏi nhưng cũng không phải là quá chênh lệch về chất lượng so với các nước trong khu vực. Vấn đề đặt ra là trình độ phát triển của ngành kiểm toán có phù hợp với thị trường hay không. Bài phỏng vấn cũng đề cập đến vấn đề hiện nay nguồn nhân lực đáp ứng cho kiểm toán, đặc biệt là nhân lực đạt trình độ quốc tế đang là vấn đề khó khăn và cũng là cấp thiết nhất đối với ngành kiểm toán Việt Nam và vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho kiểm toán của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quốc tế. Nội dung bài phỏng vấn cũng đề cập đến việc trong thời gian tới để chất lượng kiểm toán được nâng cao cần hợp tác với các tổ chức hành nghề kiểm toán của thế giới, tăng cường hợp tác với các trường đại học nước ngoài nhằm đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực cho kiểm toán để các bên có thể công nhận trình độ và chứng chỉ hành nghề của nhau.
Tuy nhiên, bài phỏng vấn chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kiểm toán độc lập (các doanh nghiệp kiểm toán), chưa quan tâm đến lĩnh vực kiểm toán nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước, của tác giả Phùng Thị Hằng, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường 7 z Đại học Kinh Tế, năm 2015.[18] Nâng cao chất lượng KTV độc lập của tác giả Ngô Thị Thu Hà, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Mã số 60.30, Trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 [15]. Các đề tài cấp bộ đã được bảo vệ thành công của KTNN gồm: Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (2001), Vai trò của KTNN trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước (2001). Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (2002).
Vai trò của KTNN trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân (2002). Các đề tài, tài liệu, báo cáo này đã đưa ra cơ sở lý luận về chất lượng KTVNN nói chung; quá trình hình thành và phát triển và một số văn bản liên quan đến các kết quả kiểm toán, các quy định của ngành KTNN nói chung, KTNN khu vực I nói riêng và vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực KTV. Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu, tài liệu, báo cáo mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề chung nhất, bên ngoài của nhân lực, chưa làm rõ hơn những đặc trưng của KTNN, KTNN khu vực I; các tiêu chuẩn chất lượng của KTVNN thì từ đó mới có những đánh giá tổng thể, khách quan và đưa ra được nội dung sát đúng, cụ thể hơn đối với công tác phát triển nguồn nhân lực KTV tại KTNN khu vực I. Do đó, đề tài luận văn mang tính thực tiễn và không trùng lắp với các nghiên cứu trước đây.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức. [7, trang 6] Nguồn nhân lực hay còn được gọi là “nguồn lực con người” được hiểu 8 z ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
Khái niệm “nguồn nhân lực” (Human resources) được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và ở một số nước châu Á, khi khoa học “quản trị nguồn nhân lực” phát triển. Hiện nay khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất.
Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Trong các lý thuyết về “vốn”, về “tăng trưởng”, thì nguồn nhân lực đều được coi là yếu tố hàng đầu, đảm bảo cho sự phát triển sản xuất và dịch vụ. Có nhiều cách tiếp cận khái niệmnguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc [18], nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, nguồn nhân lực được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội.
Theo đề tài khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX.07: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS. TSKH Phạm Minh Hạc chủ trì, nguồn nhân lực được quan niệm là số dân và chất lượng con người bao gồm: thể chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng điều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân cư của một đất nước với tất cả các đặc điểm về thể chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực, phẩm chất và lịch sử của dân 9 z tộc đó.