CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN • TIỄN CỦA VIỆC • VÀ THựC • sử DỤNG • BÀI TẬP • PHÁT TRIỂN NĂNG LỤC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KĨ NĂNG ĐÃ HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Việc dạy học phát triển năng lực đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển tại Mĩ năm 1970, sau đó đến các quốc gia khác như Anh, úc, New Zeland, xứ Wales,.
vào nhũng năm 1990. Năm 2000, có rất nhiều quốc gia đã phát triển chương trình theo tiếp cận năng lực như: Canada, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Phần Lan, Thái Lan,.các nước trong tố chức OECD. Dạy học theo hướng phát triến năng lực, trong đó việc phát triến năng lực vận dụng kiến thức (NLVDKT) vào thực tiễn cũng được quan tâm. Trong nền giáo dục phương Tây, nhiều nhà Giáo dục, Tâm lý học đã đề cập đến vấn đề dạy học trải nghiệm nghĩa là HS học tập từ thực tế và vận dụng các kiến thức học được vào thực tế.
Các lý thuyết học tập để tạo nên cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về việc phát triển NLVDKT vào thực tiễn như Thuyết hành vi - Học là sự thay đổi hành vi (Skinner, Watson, Thorndike), Thuyết nhận thức - Học là giải quyết vấn đề (Jeans Piaget và một số nhà khoa học khác); Thuyết kiến tạo - Học là tự kiến tạo tri thức (John Deway, Jean Piaget, Wat zlawich). Đặc biệt John Deway (1859 - 1952) là một nhà triết học thuộc chủ nghĩa thực dụng, nhà tâm lý học và là nhà giáo dục thường được coi là cha đẻ của phong trào cải cách giáo dục. Trong tư tưởng giáo dục của ông thì mục đích của giáo dục là đào tạo những con người không chi giỏi về kiến thức mà còn giỏi về kỹ năng thực hành. John Dewey có câu viết nổi tiếng: “Một gam kinh nghiệm tốt hơn một tấn lý thuyết, đơn giãn chỉ vì lý thuyết chỉ có ý nghĩa sống động và kiểm tra được ở trong kinh nghiệm.
Kinh nghiệm, dù khiêm tốn nhất, cũng có thể sản sinh và chống 6 đỡ cho lý thuyết, còn lý thuyết mà không liên hệ với kinh nghiệm thì không thể xác định và nắm bắt như là lý thuyết. Nó dễ trở thành công thức, thành khẩu hiệu đầu môi, khiến tư duy và “lý thuyết” đích thực trở nên không cần thiết và không thể có được” [15], Trong giáo dục phương Đông từ xa xưa cũng có các tư tưởng về việc phát triển NLVDKT vào thực tiễn như “Học phải đi đôi với hành”, “Học rộng điều gì không bằng biết phần cốt yếu của điều ấy; biết điều cốt yếu của điều ấy, không bằng thực hành điều ấy” (Chu Hy), “Biết không phải là khó, làm mới khó” (Kinh Thư). Như vậy, các nhà giáo dục phương Đông cho rằng một kiến thức, một nguyên lý hay lý thuyết dù hay đến mấy mà không vận dụng vào thực tế được thì cũng là vô ích. Cho nên sự vận dụng các kiến thức là mục đích cũng như là sự cần thiết đối với quá trình học tập của người học.
Hiện nay cũng có một số sách, bài báo khoa học của nước ngoài đề cập đến vấn đề phát triển NLVDKT môn học vào thực tiễn.Knubben (1993) đã có bài viết về việc giáo dục dựa trên khả năng hoặc năng lực: Thu hẹp khoảng cách giữa tiếp thu kiến thức và khả năng áp dụng trong cuốn Higher education [43], Năm 2012, cuốn sách Education for life and work đã đề cập tới tầm quan trọng của việc phát triền năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng trong thế kỉ 21 [45], Hầu hết các công trình nghiên cứu hoặc các bài viết đã chỉ ra những vai trò của việc dạy học phát triển NLVDKT môn học vào thực tế cho học sinh. Lịch sử nghiên cứu vẩn đề tại Việt Nam Trong những năm gần đây đã nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu về phát triến năng lực vận dụng kiến thức, kì năng đã học trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục chuyên ngành lí luận và PPDH bộ môn Hoá học. Một số tác giả nghiên cứu đề xuất các biện pháp cụ thể phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong dạy học các chương, bài cụ thể như: Lã Thị Quế Ninh (2017) Sử dụng bài tập hoá học chương Cacbon - Silic Hóa 7 học lớp 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh [30]; Trịnh Lê Hồng Phương, Phạm Thị Hương (2019) Xây dựng thang đánh giá năng lực vận dụng kiến thức hoả học vào thực tiễn của học sinh trường trung học phô thông [36]; Nguyễn Thị Lê Thu (2019) Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua dạy học tích hợp các chủ đề chương Alkane - Hoả học 11 - Trung học phô thông [39]; Bạch Thị Phương Thanh; Trần Trung Ninh (2021) Dạy học STEM chủ đề "Nghiên cứu quy trình và chế tạo thiết bị bình chữa cháy mini” nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh [37]; Ngô Thu Hằng, Phạm Thanh Nga, Trần Trung Ninh (2021) Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường chủ đề Webquest "Dấu chân Carbon ” nhằm phát triên năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng cho học sinh [20]; Vũ Thị Thu Hoài, Lê Thị Hiền (2023) Thực trạng sử dụng thỉ nghiêm hoá học phát triên năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh ở một số trường trung học phô thông Thành phố Hà Nội [23]; Đồng Thanh Lân và cộng sự (2020) đã giới thiệu việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông qua hệ thống bài tập thực tiễn phần “Kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm”[27]; Phạm Thị Kiều Duyên (2015) đã giới thiệu việc sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh [15]; Triệu Thị Hảo, Trần Trung Ninh (2023) đã sử dụng bài tập hoá học chủ đề “cấu tạo nguyên tử” (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng [21]; Dương Minh Tú và cộng sự (2022) đã sử dụng bài tập hoá học trong dạy học phần “hợp chất hữu cơ có nhóm chức” (Hoá học 11) nhằm đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng [40].Các biện pháp được sử dụng để phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học được các tác giả tập trung nghiên cứu như sử dụng bài tập Hoá học, dạy học tích hợp, dạy học STEM, sử dụng thí nghiệm hoá học,. Trong các công trình này, các tác giả cũng đã phân tích được ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức, kĩ năng; đưa ra cấu trúc và biểu hiện của năng lực vận 8 dụng kiến thức, kĩ năng đã học; xây dựng công cụ đánh giá của HS theo mồi biện pháp cụ thể.
Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2022-2023, chương trình GDPT 2018 đã được áp dụng đối với chương trình THPT, nội dung chương trình và các yêu cầu cần đạt đã có nhiều thay đồi so với chương trình GDPT trước đây. Vì vậy cần có nhiều hơn nữa các đề tài nghiên cứu về sử dụng bài tập Hoá học trong phát triển NL cho HS THPT. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là thực sự cần thiết. Một số vấn đề về năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học 1.
Khái niệm Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Hoá học năm 2018, năng lực vận dụng kiến thức kì năng đã học là một trong ba thành phần của năng lực hoá học. Nhiều tác giả đưa ra các quan điếm liên quan đến NLVDKTKN. Tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh cho rằng: “NLVDKT là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. NLVDKT thề hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.” [26] Trong chương trình GDPT môn Hoá học 2018, đã chỉ ra: NL VDKTKN đã học là khả năng HS vận dụng được kiến thức, kĩ năng hoá học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn nhằm: Phát hiện được vấn đề, huy động được kiến thức, đề xuất được giải pháp và thực hiện giải quyết vấn đề thực tiễn một cách khoa học, sáng tạo từ đó giúp HS định hướng được nghề nghiệp cho bản thân sau khi tốt nghiệp THPT; ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ củ va bản thân, gia đình và cộng đồng; ứng xử linh hoạt với tự nhiên 9 > 9 phù hợp với yêu câu phát triên bên vũng xã hội và bảo vệ môi trường.
[10], [12] Từ các quan điểm trên, theo chúng tôi NLVDKTKN đã học của HS có the được hiểu là khả năng chủ thê phát hiện được vấn đề học tập, vấn đề thực tiền huy động được các kiến thức đã lĩnh hội, kĩ năng của bản thân nhằm thực hiện giải quyết các vấn đề học tập, thực tiền đạt hiệu quả. Đây là một trong ba thành phần của năng lực hoá học [10], 1. Cấu trúc năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Dựa theo tài liệu [9], [40], [32], cấu trúc năng lực VDKTKN đã học cùa HS được tổng quan gồm 5 tiêu chí, được đánh giá theo 3 mức độ như sau: Bảng 1.Tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS THPT Tiêu chí đánh giá Mức độ NLVDKT, KN đã Mức 1 Mức 2 Mức 3 học • (1 điểm) (2 điểm) (3 điểm) l.Vận dụng được Trình bày được Nhận diện một Nhận diện một kiến thức hoá học một số nội dung cách chính xác cách chính xác để phát hiện, phát trong bài tập hóa các vấn đề thực các vấn đề trong hiện, giải thích hiện học liên quan tiễn, nhưng bài tập thực tượng tự nhiên, ứng đến vấn đề thực• chưa phân tích tiễn; phân tích dụng của Hoá học tiễn. rõ ràng, chính rõ ràng, chính trong cuộc sống.
xác bản chất xác băn chất của của vấn đề đó. Vận dụng được Trình bày được Đánh giá được Lập luận chặt kiến thức hoá học một số nội dung vấn đề thực chẽ trong các ý để phản biện, đánh đã có liên quan tiễn nhưng kiến phản biện, giá ảnh hưởng của đến vấn đề thực chưa phân tích khen, chê phù một vấn đề thực tiễn. rõ ràng, chinh họp.