CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH CHỦ ĐỀ CĂN BẬC HAI, CĂN BẬC BA Ở LỚP 9. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực Là một vấn đề thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, năng lực (NL) được nhiều tác giả tiếp cận ở nhiều góc nhìn khác nhau. ❖ Các quan điểm về NL trên thế giới: - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) đã đưa ra quan điểm rằng: “Năng lực là khả năng đáp ứng một cách có hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [40]. - Theo Denyse Tremblay: “Năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [41].Weinert, một chuyên gia kinh tế học có quan điểm: “Năng lực là tổng hợp những khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [42].
- Theo Howard Gardner cho rằng: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo được”[43]. ❖ Các quan điểm về NL trong nước: - Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Phạm Lê Liên đã đưa ra quan điểm “Năng lực là một phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [16]. - Theo tâm lý học đại cương của tác giả Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [31]. 7 - Theo quan điểm Triết học thì “Năng lực của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội, năng lực không những do hoạt động của não bộ quyết định mà trước hết do trình độ phát triển của lịch sử mà loài người đã đạt được” [39].
- Theo tác giả Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2019): “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”[20]. - Theo tác giả Hoàng Phê: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [24]. - Dựa vào kết quả nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài, chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể đã giải thích thuật ngữ “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. - Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Đức Thái (chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Nguyễn Hoài Anh, Phạm Xuân Chung, Nguyễn Sơn Hà, Phạm Sỹ Nam [27] đã đưa ra các đặc điểm chính của NL như sau: + NL là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện của người học.
+ NL là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… + NL được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong thực tiễn. 8 Với việc tổng hợp, phân tích các định nghĩa về NL như trên, tác giả hiểu: Năng lực là khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng, thuộc tính cá nhân cố gắng để thực hiện được một hoạt động học tập nào đó. Các năng lực cần phát triển cho học sinh THCS. Thực hiện đúng theo tư tưởng, quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh (HS) những năng lực cốt lõi trong đó có ba năng lực chung: “năng lực tự chủ và tự học (năng lực thể hiện trong quan hệ với bản thân), năng lực giao tiếp và hợp tác (năng lực thể hiện trong quan hệ với người khác), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (năng lực thể hiện trong quan hệ với công việc)”[1].
Song song với phát triển ba năng lực chung, HS trung học cơ sở (THCS) còn được học tập và trải nghiệm nhằm phát triển các năng lực khác đó là: “năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất” [1]. Khái niệm năng lực toán học. NL toán học là một năng lực đặc thù, gắn liền với môn học. Đây cũng là một quan niệm được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau với sự quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả.
- Dưới góc nhìn của hiệp hội giáo viên Toán Mĩ (NCTM): “Năng lực toán học là cách thức nắm bắt và sử dụng nội dung kiến thức toán” [28]. - Tác giả Blomhj & Jensen cho rằng: “Năng lực toán học là khả năng sẵn sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định” [28]. - Tác giả Niss quan niệm “Năng lực toán học như khả năng của cá nhân để sử dụng các khái niệm toán học trong một lĩnh vực tình huống có liên quan đến toán học, kể cả lĩnh vực bên trong hay bên ngoài toán học (để hiểu, quyết định và giải thích)” [28]. Năng lực toán học của Niss [28].
Niss chia NLTH thành 8 thành tố liên quan chặt chẽ với nhau. Các thành tố cốt lõi của NLTH: “Năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học” [29]. Có thể thấy rằng NL Toán học là một trong những NL cốt lõi mà mỗi HS cần có. Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, kết hợp quá trình giảng dạy tác giả quan niệm: NL Toán học là khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng nhằm giải quyết vấn đề nào đó của bộ môn Toán.
Năng lực tự học 1. Quan niệm về “Tự học” a) Một số quan điểm về tự học Tự học (TH) là một NL rất quan trọng, là chìa khóa giúp HS tiến nhanh hơn đến việc lĩnh hội tri thức. Đây là một kĩ năng sẽ đồng hành cùng HS trên suốt quá trình học tập.Rubakin cho rằng: “Tự tìm lấy tri thức có nghĩa là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến 10 tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [25].
- Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm. Người học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được” [19]. - Theo Thái Duy Tuyên quan niệm rằng: “Tự học là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về kinh nghiệm lịch sử loài người và của chính bản thân người học” [36]. - Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, một người vô cùng tâm huyết và đã giành rất nhiều thời gian công sức nghiên cứu về vấn đề TH.
Ông luôn coi TH là “nguồn nội lực” mà mỗi người học cần có trên con đường chinh phục tri thức [34]. Ông cho rằng, hoạt động dạy của giáo viên (GV) chỉ là ngoại lực tác động đến trò, bởi lẽ GV không thể học hộ HS, bản thân HS phải cố gắng, đấy mới là TH. Do đó, TH và học luôn tồn tại và đồng hành cùng nhau. Chính vì vậy, TH có thể xảy ra có thầy hoặc không có thầy.
- Theo Đặng Thành Hưng: “TH là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc vào trực tiếp người dạy hay học chế nhất định, do người học tự quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập” [12]. Qua việc đọc và nghiên cứu các tài liệu [12], [19], [25], [34], [36], kết hợp với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, theo tác giả: “Tự học là tự giác, chủ động trong học tập dưới sự hướng dẫn của người thầy hoặc người học tự nỗ lực nghiên cứu về một vấn đề nhằm nắm bắt tri thức để đạt được mục tiêu học tập.” 11 Trong đó các hoạt động (HĐ) TH diễn ra ở HS như sau: + Đọc hiểu và ghi tóm tắt nội dung sách giáo khoa (SGK) và tài liệu tham khảo (TLTK) (lý thuyết, tóm tắt đề bài tập) + Hiểu vấn đề cần học và liên tưởng, huy động được những kiến thức có liên quan; + Đối chiếu với những ví dụ minh họa đã biết để áp dụng tương tự hoặc có sáng tạo; + Trả lời câu hỏi và bài tập của vấn đề TH + Tự kiểm tra kết quả tự học của mình b) Một số hình thức tự học Có rất nhiều cách thức khác nhau để HS có thể tiến hành TH, nhưng dù là cách thức nào đi chăng nữa thì vẫn luôn đòi hỏi HS cần xác định rõ kế hoạch TH sao cho phù hợp với năng lực, sở thích, điều kiện bản thân… Tác giả nghiên cứu các tài liệu [23], [11], [35], kết hợp bám sát vào tình hình thực tế về vấn đề TH của HS. Từ các góc nhìn khác nhau tác giả có thể phân loại các hình thức TH như sau: ❖ Dựa vào không gian học tập - TH trên lớp: Thông qua phần hướng dẫn và giảng dạy của GV, HS có cơ hội giao tiếp, trao đổi với thầy cô và bạn bè qua đó HS thu nhận kiến thức rồi vận dụng vào học và làm bài tập nhằm đạt được mục tiêu học tập.