Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực số cho sinh viên đại học Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực số cho sinh viên đại học Chương 3: Thực trạng phát triển năng lực số cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP.HCM Chương 4: Phát triển năng lực số cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP.HCM thông qua tích hợp nội dung phát triển năng lực số vào các học phần trong chương trình đào tạo 10 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1.1 Các nghiên cứu về năng lực số của sinh viên đại học NLS là khái niệm được Gilster đề cập lần đầu tiên năm 1997, là khả năng hiểu và sử dụng thông tin dưới nhiều định dạng khác nhau từ nhiều nguồn khác nhau, được hiển thị qua máy tính (Gilster, 1997). Sau đó, NLS được rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau.1 Các nghiên cứu về dấu hiệu nhận biết năng lực số Chủ đề đầu tiên được rất nhiều tác giả quan tâm, chính là việc thảo luận để đi đến thống nhất vậy NLS là gì? Các nghiên cứu tổng quan về NLS trong không gian giáo dục đại học cho thấy dấu hiệu nhận biết NLS từ các khái niệm về NLS, chủ yếu được đưa ra từ bối cảnh tiếp cận, đó là: từ các nghiên cứu khoa học về NLS và từ các tài liệu nghiên cứu chính sách về NLS (Sánchez-Caballé & cộng sự, 2020; Spante, Hashemi, Lundin & Algers, 2018; Zhao, Pinto Llorente & Sánchez Gómez, 2021). Theo tiếp cận từ các nghiên cứu khoa học, khái niệm NLS được các tác giả đưa ra như sau: Năm 2013, trong bài viết về “NLS chìa khóa thành công cho tinh thần khởi nghiệp của SV”, nhóm tác giả Scuotto & Morellato (2013) đã dựa trên nghiên cứu của các tác giả Calvani, Cartelli, Fini & Ranieri (2008, tr.
186) để đưa ra khái niệm NLS là khả năng khám phá và đối mặt với các tình huống công nghệ mới một cách linh hoạt, khả năng phân tích, lựa chọn, đánh giá dữ liệu và thông tin, khả năng khai thác tiềm năng công nghệ để giải quyết vấn đề, chia sẻ, hợp tác và hình thành kiến thức, đồng thời nâng cao nhận thức về trách nhiệm của bản thân và tôn trọng quyền/nghĩa vụ của các bên liên quan. Tác giả Bennett (2014) trong bài viết về NLS của SV và việc thực hành các hoạt động dạy học của GV sử dụng các công cụ Web 2.0, đã định nghĩa NLS là kỹ năng 11 truy cập và thao tác các chức năng cơ bản để trở thành người tự tin, nhạy bén trong việc thích ứng công nghệ cho mục đích cá nhân, học tập và chuyên môn. Nhóm các tác giả Gachago, Ivala, Barnes, Gill, Felix-Minnaar, Morkel & Vajat (2016), trong nghiên cứu về phương pháp kể chuyện số (digital storytelling) được đưa vào giáo dục đại học như một công cụ để nâng cao NLS cho SV, đã sử dụng khái niệm “Các trình độ”, gồm: Trình độ thông tin là khả năng xử lý thông tin nói chung của một cá nhân; Trình độ số chỉ khả năng sử dụng các thiết bị công nghệ (cả phần cứng và phần mềm) và Trình độ mới là hàng loạt các kỹ năng mới tiên tiến trong cách thức thao tác với nội dung trực tuyến và công nghệ xã hội, do vậy vượt ra ngoài phạm vi về trình độ số. Tang và Chaw (2016), trong nghiên cứu “NLS: điều kiện tiên quyết để học tập hiệu quả trong môi trường học tập kết hợp (blended learning)” đã dựa trên nghiên cứu của tác giả Martin (2006, tr.155) để đưa ra khái niệm NLS là nhận thức, thái độ và khả năng của mỗi cá nhân sử dụng hợp lý các công cụ và cơ sở vật chất kỹ thuật số để xác định, truy cập, quản lý, kết hợp, đánh giá, phân tích và tổng hợp tài nguyên số, xây dựng kiến thức mới, tạo biểu thị truyền thông và giao tiếp với người khác, trong các tình huống đời sống cụ thể, nhằm thực hiện hành động xã hội mang tính xây dựng và để phản tư về quá trình này.
Cazco, González, Abad, Altamirano và Mazón (2016), trong nghiên cứu về “Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng CNTT và truyền thông của GV đại học vào thực tế giảng dạy” đã đưa ra định nghĩa NLS là giá trị, niềm tin, kiến thức, khả năng và thái độ sử dụng công nghệ một cách thích hợp, bao gồm máy tính cũng như nhiều phần mềm khác nhau và mạng Internet, cho phép nghiên cứu, truy cập, tổ chức và sử dụng thông tin để hình thành kiến thức. Roche (2017), trong nghiên cứu về “Đánh giá vai trò của NLS trong chương trình chuyển tiếp bậc đại học các chương trình tiếng anh cho mục đích học thuật”, đã đề cập đến khái niệm “trình độ số then chốt”, là những kỹ năng và hoạt động dẫn đến sự ra đời của các văn bản số, cho phép và thúc đẩy thu thập thông tin từ các văn bản số đa phương tiện trên toàn thế giới, trong đó nhấn mạnh rằng “khả năng 12 truy cập, đánh giá phản biện, sử dụng và tạo lập thông tin thông qua phương tiện số trong việc kết nối với người khác và cộng đồng” (ibid. 43) phải được cân nhắc trong định nghĩa trình độ số. Chan, Churchill và Chiu (2017, tr.2) trong “Nghiên cứu về NLS trong giáo dục đại học thông qua phương pháp kể chuyện số” đã nhận định NLS là khả năng hiểu và sử dụng thông tin dưới nhiều định dạng với trọng tâm là tư duy phản biện chứ không phải kỹ năng CNTT.
Theo tiếp cận từ các tài liệu nghiên cứu chính sách, khái niệm NLS được đưa ra khá đa dạng, từ các định nghĩa mang tính khái quát cao, đến các định nghĩa ngày càng được cụ thể hóa: Nhóm tác giả Littlejohn, Beetham & Mcgill (2012), trong một nghiên cứu đánh giá NLS trong lý thuyết và thực hành, đã định nghĩa NLS là khả năng cần thiết để phát triển mạnh trong giáo dục và hơn cả giáo dục, trong thời đại các hình thức số hóa của CNTT chiếm ưu thế. NLS là chìa khóa dẫn đến tiềm năng trong giáo dục đại học và giáo dục nâng cao (tr. Istance và Kools (2013) trong nghiên cứu về “Người học trong thiên niên kỷ mới” cho rằng NLS là mục tiêu học tập căn bản bao gồm các kỹ năng xử lý thông tin và khả năng đánh giá độ liên quan và độ tin cậy của thông tin trên web (tr. Các nhóm tác giả Cinque và Bortoluzzi (2013), Torres-Coronas và Vidal-Blasco (2015, 2011) trong các nghiên cứu của Ủy ban Châu Âu, đã nhận định NLS là một trong tám năng lực chủ chốt cho học tập suốt đời bao gồm “việc sử dụng tự tin và có chọn lọc công nghệ xã hội thông tin (information society technology - IST) cho công việc, giải trí và giao tiếp” (European Commission, 2007, 2018).
Dựa trên các báo cáo của Ủy ban Châu Âu, các tác giả Mattila (2015), Moncada Linares và Díaz Romero (2016) cũng xem NLS là năng lực chủ chốt giúp lĩnh hội những năng lực thiết yếu khác như ngôn ngữ, toán học, học cách học và nhận thức văn hóa, từ đó định nghĩa khái quát khái niệm này là việc sử dụng CNTT tự tin, có chọn lọc và sáng tạo để đạt được mục tiêu công việc. 13 Nhóm các tác giả Bell và Secker (2014), Covey (2013), Crearie (2016) và Cronin (2017) trong loạt nghiên cứu về phát triển NLS của tổ chức JISC (Japanese Industrial Standards Committee), cùng đưa ra khái niệm NLS là khả năng phù hợp để một cá nhân sinh hoạt, học tập và làm việc trong xã hội số, kết hợp trình độ tin học, trình độ thông tin, kiến thức truyền thông, khả năng giao tiếp và cộng tác thông qua mạng kỹ thuật số, khả năng nghiên cứu và học tập bằng công nghệ, khả năng sử dụng các phương tiện và công cụ số để đưa ra quyết định sáng suốt và đạt được mục tiêu” (JISC, 2011, tr. Trong các báo cáo sau đó của JISC, các khía cạnh hành vi, hoạt động và bản sắc số (JISC, 2014), cũng như “sức khỏe số” (JISC, 2015), tiếp tục được bổ sung trong định nghĩa. Cũng từ các báo cáo của Ủy ban Châu Âu, các nghiên cứu của các nhóm tác giả English (2016), Ferrari (2013), Guzmán-Simón, García-Jiménez và López-Cobo (2017), Mattila (2015), Moncada Linares và Díaz Romero (2016), Pérez-Mateo, Romero và Romeu-Fontanillas (2014) cùng thống nhất khái niệm NLS là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, chiến lược và nhận thức cần có khi sử dụng phương tiện kỹ thuật số và CNTT để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, giao tiếp, quản lý thông tin, cộng tác, tạo lập, chia sẻ nội dung và hình thành kiến thức một cách hiệu quả: có chọn lọc, đầy đủ, linh hoạt, sáng tạo, có đạo đức và hợp lý để học tập, làm việc, giải trí, và tham gia vào xã hội.
Định nghĩa này sau đó được Ủy ban châu Âu và tổ chức UNESCO lựa chọn sử dụng để xây dựng khung NLS DigComp cho công dân châu Âu và khung NLS toàn cầu DLGF. Kết hợp cả tiếp cận nghiên cứu khoa học và chính sách, một ví dụ đáng chú ý nhất chính là khái niệm NLS của tác giả Ferrari (2012), được sử dụng để xây dựng nên khung NLS DigComp cho công dân của Ủy ban châu Âu với 3 phiên bản DigComp 1. Theo đó NLS được xác định là tập hợp gồm 5 năng lực thành phần sau: (1) Năng lực thông tin và dữ liệu (Information and data literacy); (2) Giao tiếp và cộng tác (Communication and collaboration); (3) Sáng tạo nội dung số (Digital content 14 creation); (4) An toàn (Safety); (5) Giải quyết vấn đề (Problem solving), với 21 biểu hiện, mô tả về kiến thức, kỹ năng, và thái độ, được tổ chức theo với các cấp độ thành thạo khác nhau, đề cập đến các lĩnh vực học tập thiết yếu để giúp công dân thích ứng với cuộc sống trong thế kỉ 21 (Enochsson, 2019). Như vậy, thông qua đề án nghiên cứu về NLS của Ủy ban châu Âu, có thể thấy khái niệm NLS đã được xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng từ cả 2 xu hướng tiếp cận hiện có, để tổng hợp đưa ra khái niệm NLS mang tính khái quát và đầy đủ nhất, từ đó khái niệm NLS được cụ thể hóa rõ ràng qua các thành tố cấu thành và các biểu hiện, được mô tả trong các khung NLS DigComp.