Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông

Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho học sinh lớp 10 môn Lịch sử. Nghiên cứu phương pháp dạy học hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục.

Chuyên ngành

Lí luận và PPDH bộ môn Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2024

219
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

0.4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Giả thuyết khoa học

0.6. Đóng góp của luận án

0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.8. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS trong lĩnh vực tâm lý học và lí luận dạy học

1.2. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

1.3. Nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.4. Những nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

1.4.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

1.4.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.5. Đánh giá khái quát những nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được giải quyết và những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu

1.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Quan niệm về phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong DHLS ở trường phổ thông

2.2. Biểu hiện của năng lực nhận thức và tư duy lịch sử cần phát triển cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

2.3. Các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT

2.4. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT

2.5. Cơ sở thực tiễn

2.5.1. Khái quát thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường THPT

2.5.2. Thực tiễn phát triển năng lực nhận thức và tư duy lịch sử cho HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT

2.6. Đánh giá chung về thực trạng của vấn đề nghiên cứu

2.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG, QUY TRÌNH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của Chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông

3.1.1. Vị trí, mục tiêu chương trình lịch sử lớp 10

3.1.2. Nội dung cơ bản của Chương trình lịch sử lớp 10

3.2. Yêu cầu cần đạt của chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông và NL nhận thức, tư duy lịch sử cần PT cho học sinh trong dạy học

3.3. Quy trình phát triển năng lực nhận thức và tư duy lịch sử cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

3.4. Tiêu chí đánh giá năng lực nhận thức và tư duy lịch sử của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

3.4.1. Xác định tiêu chí đánh giá năng lực nhận thức và tư duy lịch sử của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

3.4.2. Sử dụng các công cụ đánh giá năng lực nhận thức và tư duy lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Những yêu cầu cơ bản khi xác định biện pháp phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

4.2. Đáp ứng mục tiêu dạy học lịch sử ở trường THPT

4.3. Phù hợp với đặc trưng bộ môn và gắn liền với nội dung chương trình môn học

4.4. Tạo tình huống có vấn đề và tích cực hóa HĐ nhận thức của HS

4.5. Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng nhận thức của HS

4.6. Một số biện pháp phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 10 THPT

4.6.1. Tổ chức học sinh khám phá và giải quyết vấn đề

4.6.2. Tổ chức học sinh học tập qua một số mô hình dạy học hiện đại

4.6.3. Tổ chức và hướng dẫn HS luyện tập, thực hành lịch sử

4.6.4. Tổ chức kiểm tra, đánh giá PT NL học sinh

4.7. Thực nghiệm sư phạm

4.7.1. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm

4.7.2. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

4.7.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

4.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Năng Lực Nhận Thức Tư Duy Lịch Sử Lớp 10

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi nguồn nhân lực có khả năng nhận thứctư duy linh hoạt. Dạy học truyền thống không còn phù hợp, học sinh cần được trang bị kỹ năng tự học, tự tìm kiếm, phân tích và sử dụng thông tin. Phát triển năng lực nhận thứctư duy lịch sử trở thành mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại. Nghị quyết 29 của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, trong đó tư duy lịch sửnhận thức lịch sử đóng vai trò then chốt. Đây là yếu tố giúp học sinh hiểu sâu sắc lịch sử, rút ra bài học và ứng dụng vào thực tiễn. Luận án này tập trung vào việc phát triển năng lực nhận thứctư duy cho học sinh lớp 10, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Tư Duy Lịch Sử Trong Giáo Dục Phổ Thông

Tư duy lịch sử giúp học sinh không chỉ ghi nhớ sự kiện lịch sử mà còn hiểu bối cảnh, nguyên nhân và hệ quả của các sự kiện đó. Nó khuyến khích phân tích nguồn sử liệu, đánh giá các quan điểm khác nhau và xây dựng lập luận dựa trên bằng chứng. Nhờ vậy, học sinh phát triển tư duy phản biện, tư duy phân tích và khả năng giải quyết vấn đề, những kỹ năng cần thiết cho công dân thế kỷ 21. Tư duy lịch sử cũng góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm với cộng đồng và khả năng hòa nhập quốc tế.

1.2. Nhận Thức Lịch Sử Nền Tảng Để Xây Dựng Tư Duy Lịch Sử

Nhận thức lịch sử bao gồm khả năng nhận biếtghi nhớ các sự kiện, nhân vật, khái niệm và thuật ngữ lịch sử cơ bản. Tuy nhiên, nhận thức không chỉ dừng lại ở việc thuộc lòng thông tin mà còn bao gồm khả năng hiểu ý nghĩa và mối liên hệ giữa các yếu tố lịch sử khác nhau. Đây là bước đệm quan trọng để học sinh phân tích, so sánh, đánh giádiễn giải lịch sử một cách sâu sắc. Như tác giả Nhữ Thị Phương Lan đã chỉ ra, “nếu không có NL NT và TD thì HS không thể hiểu biết đúng hiện thực lịch sử quá khứ khách quan vô cùng phức tạp và phong phú với muôn màu muôn vẻ của nó”.

II. Thực Trạng Phát Triển Năng Lực Nhận Thức Tư Duy Lịch Sử

Mặc dù đã có những đổi mới trong dạy học lịch sử, kết quả vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo. Chương trình và sách giáo khoa còn nặng về lý thuyết, giáo viên tập trung truyền đạt kiến thức hơn là phát triển năng lực cho học sinh. Phần lớn học sinh chỉ dừng lại ở tư duy bậc thấp (biết, nhận diện) mà chưa đạt đến tư duy bậc cao (hiểu, vận dụng). Để thực hiện mục tiêu của chương trình môn Lịch sử 2022, việc phát triển năng lực lịch sử nói chung và năng lực nhận thức và tư duy lịch sử nói riêng là nhiệm vụ hàng đầu của giáo viên. Học sinh lớp 10 có vị trí quan trọng, đây là nền tảng cho việc phát triển năng lực lịch sử ở các lớp tiếp theo.

2.1. Hạn Chế Trong Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Hiện Nay

Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều từ giáo viên đến học sinh, ít tạo cơ hội cho học sinh chủ động tham gia vào quá trình học tập. Học sinh thường thụ động ghi nhớ thông tin mà ít có cơ hội phân tích, đánh giávận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này dẫn đến việc học sinh không phát triển được tư duy phản biệnkhả năng giải quyết vấn đề, những kỹ năng cần thiết để hiểu sâu sắcứng dụng lịch sử.

2.2. Khó Khăn Trong Đánh Giá Năng Lực Nhận Thức Và Tư Duy Lịch Sử

Việc đánh giá năng lực nhận thứctư duy lịch sử đòi hỏi những phương pháp đánh giá đa dạng và phức tạp hơn so với việc đánh giá kiến thức thông thường. Các bài kiểm tra truyền thống thường chỉ tập trung vào việc kiểm tra khả năng ghi nhớ thông tin mà ít đánh giá được khả năng phân tích, so sánh, đánh giádiễn giải lịch sử của học sinh. Điều này gây khó khăn cho giáo viên trong việc đánh giá chính xác mức độ phát triển năng lực của học sinh và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp.

2.3. Thiếu Hụt Tài Liệu Hỗ Trợ Phát Triển Tư Duy Lịch Sử

Sự thiếu hụt tài liệu tham khảo và công cụ hỗ trợ dành riêng cho phát triển tư duy lịch sử là một thách thức đáng kể. Giáo viên thường phải tự tìm kiếm và biên soạn tài liệu, điều này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Bên cạnh đó, việc thiếu các hoạt động thực hành và trải nghiệm liên quan đến lịch sử cũng làm hạn chế khả năng vận dụng kiến thứcphát triển kỹ năng cho học sinh. Như tài liệu gốc chỉ ra “Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, có thể kể đến là chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) còn mang nặng tính hàn lâm...”

III. Quy Trình Phát Triển Năng Lực Nhận Thức Tư Duy Lịch Sử Lớp 10

Luận án đề xuất một quy trình phát triển năng lực nhận thứctư duy lịch sử cho học sinh lớp 10, bắt đầu từ việc xác định rõ mục tiêu, nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình lịch sử lớp 10. Quy trình này nhấn mạnh việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, tạo tình huống có vấn đề và khuyến khích học sinh chủ động khám phá kiến thức. Đồng thời, quy trình cũng bao gồm các tiêu chí và công cụ đánh giá năng lực nhận thứctư duy lịch sử của học sinh, giúp giáo viên theo dõi và điều chỉnh quá trình dạy học.

3.1. Xác Định Mục Tiêu Phát Triển Năng Lực Lịch Sử Cho Học Sinh

Mục tiêu phát triển năng lực lịch sử cần bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 10. Mục tiêu cần cụ thể, rõ ràng, đo lường được và có tính khả thi. Bên cạnh việc nắm vững kiến thức lịch sử cơ bản, học sinh cần được phát triển các kỹ năng như phân tích nguồn sử liệu, xây dựng lập luận, giải quyết vấn đềgiao tiếp hiệu quả.

3.2. Lựa Chọn Nội Dung Dạy Học Phù Hợp Với Mục Tiêu

Nội dung dạy học cần được lựa chọn kỹ lưỡng, đảm bảo tính khoa học, chính xác và phù hợp với trình độ của học sinh. Nên tập trung vào các sự kiện, nhân vật, khái niệm và thuật ngữ lịch sử quan trọng, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Đồng thời, cần chú trọng khai thác các khía cạnh văn hóa, xã hội, kinh tếchính trị của lịch sử, giúp học sinh hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sửmối quan hệ giữa các sự kiện.

3.3. Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Để Khuyến Khích Tư Duy

Các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, dạy học theo dự án, dạy học giải quyết vấn đề, đóng vaisử dụng công nghệ thông tin có thể giúp học sinh chủ động tham gia vào quá trình học tập, khuyến khích tư duy phản biệnsáng tạo. Giáo viên cần tạo ra môi trường học tập cởi mở, thân thiện, nơi học sinh được tự do bày tỏ ý kiến và tranh luận về các vấn đề lịch sử.

IV. Biện Pháp Phát Triển Tư Duy Lịch Sử Cho Học Sinh Lớp 10 THPT

Luận án đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển năng lực nhận thứctư duy lịch sử cho học sinh lớp 10, bao gồm tổ chức học sinh khám phá và giải quyết vấn đề, học tập qua mô hình dạy học hiện đại (lớp học đảo ngược, dạy học theo dự án), luyện tập, thực hành lịch sử và kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Các biện pháp này được thiết kế để tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức, phát triển kỹ nănghình thành thái độ tích cực đối với môn lịch sử.

4.1. Tổ Chức Cho Học Sinh Khám Phá Và Giải Quyết Vấn Đề Lịch Sử

Tạo tình huống có vấn đề kích thích sự tò mò và hứng thú của học sinh. Khuyến khích học sinh tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để giải quyết vấn đề. Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, đánh giá các phương án và đưa ra quyết định. Biện pháp này giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạokhả năng giải quyết vấn đề.

4.2. Dạy Học Theo Dự Án Để Phát Triển Kỹ Năng Tư Duy Lịch Sử

Dạy học theo dự án cho phép học sinh tự lựa chọn đề tài, lập kế hoạch, thực hiện và trình bày kết quả nghiên cứu. Quá trình này giúp học sinh vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn, phát triển kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếpthuyết trình. Dạy học theo dự án cũng khuyến khích học sinh tư duy độc lập, sáng tạochịu trách nhiệm với công việc của mình.

4.3. Luyện Tập Và Thực Hành Để Củng Cố Kỹ Năng Lịch Sử

Tổ chức các hoạt động luyện tập và thực hành như phân tích nguồn sử liệu, xây dựng sơ đồ tư duy, viết bài luận, thuyết trìnhtham gia trò chơi lịch sử giúp học sinh củng cố kiến thức và phát triển các kỹ năng liên quan đến tư duy lịch sử. Giáo viên cần cung cấp hướng dẫn và phản hồi kịp thời để học sinh có thể cải thiện kỹ năng của mình.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Biện Pháp Phát Triển Năng Lực Tư Duy Lịch Sử

Việc đánh giá năng lực nhận thứctư duy lịch sử cần được thực hiện thường xuyên, đa dạng và toàn diện. Sử dụng các công cụ đánh giá như bài kiểm tra, bài tập thực hành, dự án, thuyết trình và quan sát hoạt động học tập của học sinh. Xây dựng rubrics đánh giá chi tiết để đảm bảo tính khách quan và công bằng. Phân tích kết quả đánh giá để điều chỉnh phương pháp dạy học, giúp học sinh tiến bộ hơn.

5.1. Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Tư Duy Lịch Sử Hiệu Quả

Các tiêu chí đánh giá cần phản ánh rõ mức độ phát triển của năng lực nhận thứctư duy lịch sử của học sinh. Các tiêu chí có thể bao gồm khả năng ghi nhớ thông tin, hiểu ý nghĩa, phân tích mối quan hệ, đánh giá bằng chứng, xây dựng lập luậnvận dụng kiến thức vào thực tiễn.

5.2. Sử Dụng Công Cụ Đánh Giá Đa Dạng Để Có Kết Quả Khách Quan

Kết hợp nhiều phương pháp đánh giá khác nhau như trắc nghiệm, tự luận, bài tập thực hành, dự án, thuyết trình và quan sát hoạt động học tập của học sinh. Sử dụng rubrics đánh giá chi tiết để đảm bảo tính khách quan và công bằng. Khuyến khích học sinh tự đánh giáđánh giá lẫn nhau để phát triển tư duy phản biệnkhả năng tự học.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Năng Lực Tư Duy Lịch Sử Tương Lai

Luận án đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực nhận thứctư duy lịch sử cho học sinh lớp 10. Các biện pháp được đề xuất có tính khả thi và hiệu quả, có thể áp dụng rộng rãi trong các trường THPT. Nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử và xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên về phát triển tư duy lịch sử.

6.1. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Hỗ Trợ Dạy Học Lịch Sử

Sử dụng các phần mềm, ứng dụng và tài nguyên trực tuyến để tạo ra các bài giảng sinh động, hấp dẫn và tương tác cao. Khuyến khích học sinh sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm, phân tíchtrình bày thông tin lịch sử. Tạo ra môi trường học tập trực tuyến, nơi học sinh có thể trao đổi, thảo luậnchia sẻ kiến thức với nhau.

6.2. Bồi Dưỡng Giáo Viên Để Nâng Cao Năng Lực Phát Triển Tư Duy

Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo và sinh hoạt chuyên môn để bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho giáo viên về phát triển tư duy lịch sử. Chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp dạy học hiệu quả. Tạo cơ hội cho giáo viên nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệmtham gia các dự án liên quan đến phát triển năng lực lịch sử.

12/05/2025
Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS trong lĩnh vực tâm lý học và lí luận dạy học 1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Vấn đề nhận thức (NT) với các khía cạnh của nó được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó nổi bật nhất là tâm lý học. Những nghiên cứu của tâm lý học đạt được những thành tựu đáng chú ý từ những thập niên đầu đến giữa thế kỉ XX, với sự ra đời của trường phái tâm lý học PT (developmental psychology), mà đại diện tiêu biểu là Jean Piaget (1896 – 1980) và Lev Vygotsky (1896 – 1934).

Jean Piaget (1952) trong Tâm lí học trí khôn, (NXB Giáo dục, 1997), với lý thuyết phát sinh nhận thức chỉ ra rằng nhận thức của trẻ em phát triển qua bốn giai đoạn: cảm giác vận động, tiền thao tác TD, thao tác cụ thể, thao tác chính thức theo từng lứa tuổi khác nhau. Piaget cho rằng sự PT nhận thức và trí tuệ của trẻ em phản ánh trên hai phương diện sinh học (gen di truyền) và logic học (môi trường PT). Trẻ em nhỏ tuổi chủ yếu chỉ nhận thức được các kiến thức cụ thể ở trình độ những sự kiện và quá trình riêng biệt. Ở lứa tuổi lớn hơn (HS các lớp trung học), nhận thức và tư duy của HS có bước PT, các em có khả năng suy luận, nhận thức kiến thức không chỉ dạng đơn giản mà còn nâng lên dạng khái quát cao.

Lý thuyết của Piaget có giá trị lớn cho giáo dục trong nghiên cứu chương trình học và PPDH nhằm PT người học. Quan điểm của ông là cơ sở để chúng tôi xác định các nguyên tắc PT NL NT và TDLS trong quá trình DHLS ở trường phổ thông cho phù hợp.Bloom (1956) có cách tiếp cận khác về sự PT nhận thức của người học. Nghiên cứu của ông và các cộng sự trong Taxonomy of Education Objectives, Hanbook I: The Cognitive Domain (Phân loại các mục tiêu giáo dục: lĩnh vực nhận thức), (David McKay Company Inc., New York), xác định rằng các học vấn thuộc lĩnh vực nhận thức là những học vấn liên quan đến những quá trình trí tuệ, được giới hạn từ sự ghi nhớ đến khả năng suy nghĩ và GQVĐ của người học. 9 Bloom đã xác định các mục tiêu nhận thức bao gồm những mục tiêu liên quan đến sự nhớ lại (recall) hoặc nhận biết (recognition) và sự PT những kỹ năng và khả năng trí tuệ (intellectual skills and abilities).

Theo nghĩa như vậy, Bloom đã phân loại nhận thức thành 6 mức độ: biết – hiểu (lĩnh hội) – áp dụng – phân tích – tổng hợp – đánh giá. Sự phân loại nhận thức của Bloom giúp chúng tôi phân định rõ các mức độ trong quá trình NT và TD của HS trong học tập, từ đó đối sánh các mức độ biểu hiện của các thành tố NL NT và TDLS trong dạy học, cũng như xem xét mức độ đạt được về NL nhận thức, tư duy của HS trong học tập. Nhà giáo dục Liên Xô I.Lécne, trong công trình Dạy học nêu vấn đề (1977), khẳng định vai trò của DH nêu vấn đề trong việc cá nhân hóa QTDH, tạo hứng thú học tập và giúp HS PT hoạt động nhận thức ở mức độ khác nhau. Tác giả cũng hướng dẫn cách thức xây dựng câu hỏi, bài tập nêu vấn đề nhằm thúc đẩy người học tìm kiếm thông tin, giả thuyết nhằm giải quyết vấn đề từ đó PT NT và TD cho HS.

Lí luận về dạy học nêu vấn đề của tác giả trên các mặt nguyên tắc DH, PPDH gợi ý cho luận án trong việc xây dựng biện pháp sư phạm (BPSP) để tổ chức HS tìm hiểu và GQVĐ lịch sử nhằm PT NL NT & TDLS nơi các em. Trái ngược với Piaget, cho rằng sự PT nhận thức phần lớn bắt nguồn từ khả năng khám phá độc lập mà người học tự tạo dựng hiểu biết của chính mình. Lev Vygotsky trong công trình Mind in society: The development of higher psychological process. (Trí tuệ xã hội: Sự PT của quá trình tâm lý cao hơn) (1978), (Harvard University Press), đã đưa ra lý thuyết văn hóa - xã hội trong PT tâm lí cấp cao của con người, ông cho rằng sự PT nhận thức bắt nguồn từ tương tác xã hội, từ học tập được định hướng trong vùng PT gần nhất khi trẻ cùng với GV hoặc cha mẹ cùng xây dựng kiến thức; phần lớn những điều quan trọng trẻ học được diễn ra thông qua tương tác xã hội với người hướng dẫn.

Trong suốt quá trình PT của trẻ em thường diễn ra hai trình độ: trình độ hiện tại và vùng PT gần nhất (Zone of Proximal Development - ZPD)- đây là khu vực mà các hướng dẫn nhạy cảm nhất cần được cung cấp cho trẻ – điều này cho phép trẻ PT những kỹ năng trẻ sẽ tự sử dụng sau này. Nghiên cứu của tác giả gợi mở cho chúng tôi rằng khi xác định các BPSP PT NL NT và TDLS cần lưu ý sự phù hợp với vùng PT gần nhất của HS để quá trình NT và TD của các em đạt hiệu quả cao. Đồng thời, trong QT DHLS 10 nguyên tắc quan trọng khi PT NL NT và TD cho HS là tính vừa sức, tính phù hợp với sự PT nhận thức và tâm lý lứa tuổi của các em. Grant Wiggins và Jay McTighe trong Understanding by Design, (1998), Association for Supervision and Curriculum Development, Alexandria, Virginia USA, đã tập trung nghiên cứu sự PT NT của người học ở mức độ NT lí tính (hiểu).

Như vậy các khía cạnh của mức độ hiểu của HS chứng tỏ sự PT tiến xa so với mức Biết trong bậc thang nhận thức của Bloom. Chúng tôi dựa vào kết quả nghiên cứu này như là một gợi mở để làm rõ hơn nội hàm của NL NT & TD trong DH, xác định các cấp độ NL NT & TD cần PT cho HS trong QTDHLS ở trường THPT. Krathwohl trong A Taxonomy for Learning, Teaching, and Assesing: a Revision of Bloom’s Taxonomy of Education Objectives (Phân loại học tập, giảng dạy và đánh giá: sửa đổi phân loại mục tiêu giáo dục của Bloom) (2001, Longman Publishing) đã hiệu đính và bổ sung phép phân loại của Bloom thành: nhớ - hiểu - áp dụng- phân tích - đánh giá và sáng tạo. Ông và các cộng sự cũng đề xuất việc xác định các MT GD trong lĩnh vực NT theo 2 chiều: quy trình nhận thức (nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo) và chiều tri thức (thực tiễn, khái niệm, quy trình, siêu NT).

Quan điểm và cách tiếp của Lorin và David đã hé mở cho luận án trong việc xác định khung nội dung các thành tố của NL NT & TDLS cần PT cho HS trong QTDHLS ở trường THPT, đó là gắn qui trình PT các thành tố này với YCCĐ của CĐ, CĐLS trong CTGD, với các động từ chỉ mức độ biểu hiện NL để có thể đo lường NL NT & TDLS của người học. Quan điểm về TD và dạy TD được phản ánh trong LS tư tưởng của nhân loại từ rất sớm. Bàn về TD trong giáo dục Khổng Tử (551-479 TCN) cho rằng: “Học mà không suy nghĩ ắt mờ tối, suy nghĩ mà không học ắt mệt mỏi”. Theo Khổng Tử học mà không đào sâu suy nghĩ thì tri thức không thể mở mang, PT.

Nhà hiền triết Socrates (469-399 B.C) đã đề xuất một cách tiếp cận để tìm ra được sự thật đó là liên tục tư duy, đặt ra các câu hỏi tranh luận đến khi phơi bày được mâu thuẫn của vấn đề cần giải quyết theo các tiêu chí: 11 sáng tỏ, độ tin cậy, sự đúng đắn, độ chính xác, hợp lý, không thiên vị. Phương pháp của ông còn gọi là PP truy vấn biện chứng, đặt nền tảng lí luận cho việc PT TD phê phán trong dạy học. Tiếp nối Khổng Tử và Socrates, nhà bác học tiêu biểu của thời kì Phục Hưng Descartes qua câu nói nổi tiếng “tôi tư duy, tôi tồn tại”, với công trình Rules for the direction of the mind (Các nguyên tắc luận về trí tuệ) (1637), Descartes đã tranh luận về sự cần thiết của việc xây dựng một hệ thống rèn luyện trí óc đặc biệt để dẫn đường cho tư duy, ông PT một PP tư tưởng trên nguyên tắc quan trọng nhất là nghi ngờ mọi thứ, ông chỉ ra rằng không bao giờ được chấp nhận một sự kiện là đúng mà cần có sự hoài nghi. Những quan điểm của các nhà triết học trên định hướng cho chúng tôi về vai trò quan trọng của tư duy và việc thúc đẩy TD của HS trong DHLS và cách hướng dẫn HS học tập bằng tự lực suy nghĩ, bằng tranh biện, bằng lập luận về VĐLS, qua đó hình thành NL NT & TD cho các em.

Nhà giáo dục nổi tiếng John Dewey coi nhà trường và xã hội là hai thành tố nền tảng mà giáo dục cần quan tâm xây dựng lại nhằm khuyến khích trí thông minh trải nghiệm (experimental intelligence) cho HS. Trong công trình How We Think (1910), (Cách ta nghĩ, Vũ Đức Anh dịch, 2013, NXB Tri thức), ông chỉ ra rằng cần rèn luyện tư duy (trí nghĩ) cho HS bởi vì trí óc của các em được PT tốt nhất thông qua quan sát, lý giải tri thức và kiểm nghiệm nó Phương pháp để rèn tư duy (được coi là bản lược đồ về quá trình tư duy đầu tiên trong dạy học) Dewey đưa ra gồm năm bước tách biệt theo logic: (I) một cái khó được thâu nhận; ( II) phạm vi và định nghĩa của nó; (III) đề xuất cho một giải pháp khả dĩ; (IV) sự triển khai bằng cách lập luận cho những căn cứ của đề xuất; (V) tiếp tục quan sát và thực nghiệm đi đến chấp nhận hoặc bác bỏ đề xuất, tức là một kết luận tin theo hay không tin theo. Những quan điểm về tư duy của Dewey là định hướng về nguyên tắc cho luận án trong việc triển khai quá trình DHLS nhằm rèn luyện NL NT & TDLS của người học, trong đó chú trọng cá nhân hoá người học, rèn HS cách TD thông qua hoạt động học tập mang tính thực tiễn và phù hợp kinh nghiệm của các em.N Sacdacop trong công trình Tư duy của học sinh (Nxb GD, HN, 1970) đã làm rõ các thao tác và hình thức TD, mối liên hệ giữa TD và ngôn ngữ, giữa hình tượng và khái niệm trong TD của học sinh, các quy luật PT của nó. Nghiên cứu cũng chỉ rõ chính trong khi người học tìm cách giải các bài toán, tìm cách chứng 12 minh, làm sáng tỏ vấn đề, TD của các em sẽ được PT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ