Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 3 Chương 2: Một số biện pháp sư phạm phát triền năng lực mô hình hóa toán học cho học sinh thông qua dạy học chủ đề Các đường đồng quy trong tam giác lớp 7 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4 CHƯƠNGI CO SO LÍ LUẬN VÀ CO SỞ THỤC TIỄN 1. Năng lực, năng lực toán học 1. Khái niệm năng lực Nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau như xã hội học, giáo dục học, triết học, tâm lí học hay kinh tế học đã đưa ra nhiều định nghĩa về năng lực. Theo tâm lý học: "Năng lực là sự kết họp các thuộc tính duy nhất của một cá nhân phù hợp với các yêu cầu cụ thể của một hoạt động nhất định để đảm bảo rằng hoạt động đó có kết quả tốt" [9J.
Theo Epstein và Hundert [15] thì năng lực là việc sử dụng thường xuyên và đúng cách các kỹ năng giao tiếp, kiến thức và kỳ năng chuyên môn, khả năng lý luận, cảm xúc, giá trị và quá trình xem xét và phân tích trong thực tiễn hoạt động hằng ngày vì lợi ích của cá nhân và cộng đồng mà mình đang phục vụ. Hai tác giả Epstein & Hundert (2002) cũng nhấn mạnh những năng lực được trang bị phải được áp dụng một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày, không phải là “một sự thể hiện xuất chúng hay ngoại lệ” theo tác giả Hoàng Thị Tuyết [10]. Ngoài ra, tác giả Hoàng Thị Tuyết đã phân tích, tổng họp các định nghĩa về năng lực và cho rằng “năng lực được xem như là sự tích họp sâu sắc của kiến thức - kĩ năng - thái độ”. Tác giả cũng nhấn mạnh, năng lực không chỉ thể hiện trong việc thực hiện ở lĩnh vực chuyên môn mà còn thể hiện trong việc kết nối kiến thức với các hoạt động thực tiễn của đời sống.
Năng lực còn là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ để thực hiện một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [3], Như vậy, có thể hiểu: Năng lực là sự kết hợp giữa kiến thức - kỳ năng thái độ của các cá nhân đề đảm bảo thực hiện một số hoạt động phức tạp. Năng lực là tồ hợp các thuộc tính mang tính cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả [11]. Cụ thể hơn, năng lực được xem là sự kết họp sâu sắc giữa kiến thức - kỹ năng - thái độ giúp có thể thực hiện 5 một công việc chuyên nghiệp và được thề hiện trong thực tiễn hoạt động. Tuy nhiên, các định nghĩa trên còn khá trừu tượng, khó định lượng để vận dụng vào quá trình dạy học ờ trường phố thông.
Do vậy, trong nghiên cứu này, tôi sử dụng định nghĩa về năng lực theo như chương trình giáo dục phổ thông 2018. Theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, năng lực trong được hiểu là “thuộc tính cá nhân được hình thành phát triền nhờ tố chất sằn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” [1]. Dù được định nghĩa theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, khái niệm về năng lực có thể được hiếu khái quát là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Khái niệm năng lực nhìn chung đánh giá cao khả năng vận dụng, thực hành của mồi cá nhân trong mọi lĩnh vực, không đơn thuần là khả năng hiểu biết tri thức. Năng lực Toán học Năng lực toán học trong chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA (Programme for International Student Assessment) được định nghĩa là khả nâng của một cá nhân có thể nhận biết, sử dụng và hiểu các khái niệm, thủ tục, quy tắc và nguyên tắc toán học để giải quyết các vấn đề trong một số ngữ cảnh thực tế [7], Để đạt được năng lực toán học trong PISA, học sinh cần có khả năng áp dụng toán học vào các tình huống thực tế, hiểu và giải thích các khái niệm toán học, tìm hiểu các phương pháp và quy tắc toán học và sừ dụng chúng để giải quyết các vấn đề. Học sinh cũng cần có khả năng giải thích, bình luận và diễn đạt ý kiến toán học một cách logic và chính xác. Đánh giá năng lực toán học trong P1SA diễn ra qua việc áp dụng các bài toán thực tế vào các bài thi.
Học sinh cần áp dụng các kiến thức toán học đã học đế giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày, như tính tiền, xác định thời gian, đo lường và phân tích dữ liệu. Điểm số trong PISA phản ánh khả năng của học sinh trong 6 việc áp dụng toán học vào các tình huống thực tế và hiểu biết về các khái niệm toán học. Tổ chức PISA cũng nhấn mạnh tính hợp tác trong quá trình giải quyết bài toán. Việc học sinh cùng nhau thảo luận, đưa ra ỷ kiến và giải quyết vấn đề là một yếu tố quan trọng trong đánh giá năng lực toán học.
Tóm lại, năng lực toán học trong chương trình đánh giá HS quổc tế PISA là khả năng áp dụng kiến thức và quy tắc toán học vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tế, hiểu biết và giải thích các khái niệm toán học, và có khả năng hợp tác và giao tiếp trong quá trình giải quyết bài toán.Năng lực Toán học có thể bao gồm khả năng phân tích, suy luận, áp dụng các nguyên tắc toán học vào các tình huống thực tế, và khả năng sáng tạo đề tạo ra các phương pháp giải quyết vấn đề mới. Nó cũng gồm khả năng làm việc với các công cụ toán học như biểu đồ, đồ thị, các công thức và thuật toán. Năng lực Toán học đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội học và công nghệ thông tin. Nó là nền tảng cho việc nghiên cứu, phân tích và giải quyết các công việc phức tạp và là yếu tố quan trọng trong việc phát triển tư duy logic, sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề của con người.
Trong quá trình giáo dục, năng lực Toán học được đánh giá và phát triển thông qua các phương pháp đánh giá và bài tập thực hành. Nó cũng có thế được cải thiện thông qua việc học và thực hành liên tục, sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả và tham gia vào các hoạt động thực tế liên quan đến Toán học [7], Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định: Giáo dục toán học góp phần hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học - biểu hiện tập trung của năng lực tính toán với các thành phần sau: tư duy và lập luận toán học, mô hình hoá toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học, sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn. Giáo dục toán học tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, 7 giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn Khoa học, Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học để thực hiện giáo dục STEM [4], Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng đã xác định, năng lực toán học bao gồm các năng lực thành phần sau [ 1 ]: - Năng lực tư duy và lập luận toán học thể hiện qua việc: + Thực hiện được các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, tống hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự; quy nạp, diễn dịch. + Chi ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận.
+ Giải thích hoặc điều chỉnh được cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học. - Năng lực mô hình hóa toán học thể hiện qua việc: + Xác định được mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị,.) cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn. + Giải quyết được những vấn đề toán họctrong mô hình được thiết lập. + Thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến được mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp.
- Năng lực giải quyết các vấn đề toán học thể hiện qua việc: + Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học. + Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề. + Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra. + Đánh giá được giải pháp đề ra và khái quát hoá được cho vấn đề tương tự.
- Năng lực giao tiếp toán học thế hiện qua việc: + Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra. + Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu cầu thích họp về sự đầy đủ, chính xác). 8 + Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic,.) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác. + Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễnđạt, nêu câu hỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tường liên quan đến toán học.
Tóm lại, năng lực Toán học là khả năng hiếu và áp dụng các khái niệm, kiến thức và kỳ năng toán học để giải quyết vấn đề và phát triển tư duy logic và sáng tạo. Nó là yếu tố quan trọng trong nhiều lĩnh vực và có thể được cải thiện thông qua việc học tập và thực hành liên tục.