CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan hoạt động logistics 1. Khái niệm Logistics Đã từ lâu, logistics trở thành hoạt động không thể tách rời đối với xã hội và đặc biệt là trong nền kinh tế phát triển theo xu hướng hội nhập toàn cầu như hiện nay. Theo đó, thuật ngữ “Logistics” cũng trở nên ngày càng phổ biến.
Tuy nhiên thuật ngữ này bao hàm ý rộng nên tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có tên gọi cụ thể nào bằng tiếng Việt. Có thể xem xét tới một số định nghĩa về Logistics như sau: Trong cuốn từ điển Oxford English, Logistics là một nhánh của ngành khoa học quân sự, liên quan đến các hoạt động thu mua, bảo dưỡng và vận tải nguyên liệu, nhân sự và vật chất. Tuy nhiên, cuốn “New Oxford American” định nghĩa Logistics là cách tổ chức chi tiết của một hoạt động phức tạp liên quan đến nhiều người, vật chất hoặc tư trang. Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP), Logistics là việc quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan…từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng( Liên Hợp Quốc, 2022).
Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải. Logistics còn được hiểu là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và lưu trữ các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm khởi đầu là các nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ đến điểm tiêu thụ cuối cùng thông qua các hoạt động khác nhau (Đại học Hàng hải thế giới, 1998). Mặc dù chưa có định nghĩa thống nhất cho thuật ngữ “Logistics” song về cơ bản các khái niệm này sẽ được định nghĩa hoặc theo nghĩa hẹp, tiêu biểu là tại Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam 2005. Theo đó, Luật Thương mại Việt Nam đã nêu khái niệm về dịch vụ Logistics thay vì Logistics nói chung “ Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Ngoài ra, quan điểm về Logistics có thể hiểu theo nghĩa rộng như quan điểm 7 của Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ - CSCMP (2001) “Logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng” Nhìn chung, thông qua các định nghĩa về logistics và dịch vụ logistics, có thể hiểu Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển, lưu trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng nhằm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, kịp thời và tối ưu hóa chi phí. Phân loại Logistics Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn, cách thức khác nhau ta có các cách phân loại logistics không giống nhau. Cụ thể, có 3 căn cứ để phân loại logistics: dựa vào hình thức, quá trình vận hành, đối tượng hàng hóa. Căn cứ vào hình thức logistics Logistics bên thứ nhất - First Party Logistics (1PL) Logistics bên thứ nhất (1PL) hay còn gọi là logistics tự cấp được áp dụng đối với các doanh nghiệp tự thực hiện các hoạt động logistics, tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp của mình.
Đối với loại hình này, doanh nghiệp gần như tự tổ chức và thực hiện các hoạt động cũng như cung cấp các phương tiện vận tải, nhà xưởng và nhân sự để phục vụ cho sự hoàn thành của chuỗi hoạt động logistics. Thông thường công ty hoặc cá nhân sẽ tự tổ chức hoạt động logistics theo mục đích riêng của mình. Những công ty hoặc cá nhân này thông thường sẽ sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, công cụ hoặc thiết bị cho việc bốc xếp và vận chuyển hàng hóa từ địa điểm này đến địa điểm khác, cũng như các nguồn lực khác bao gồm nhân sự thực hiện và vận hành hoạt động logistics bởi chính họ. Hình thức logistics tự cấp này hầu như thường áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và phân phối tại địa phương, quãng đường vận chuyển ngắn.
Dịch vụ 1PL có thể giúp công ty chủ động trong hoạt động sản xuất, phân phối tuy nhiên làm bộ máy hoạt động của công ty trở nên phức tạp dễ dẫn tới giảm hiệu quả cũng như năng suất làm việc chung do cùng một lúc phải chịu 8 trách nhiệm cho nhiều hoạt động từ khâu sản xuất cho đến thành phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng.1: Sơ đồ quy trình Logistics bên thứ nhất Nguồn: VILAS Logistics bên thứ hai - Second Party Logistics (2PL) 2PL hay logistics bên thứ hai thường là tiền đề trong hoạt động thuê ngoài logistics. Các công ty cung cấp dịch vụ 2PL sẽ thực hiện một trong số các loại dịch vụ như vận tải, kho bãi, môi giới hải quan, đóng gói,. 2PL chủ yếu là các hãng tàu, hãng xe, các công ty bảo hiểm,. sở hữu các phương tiện vận tải, nguồn lực sẵn có và sử dụng phương tiện, nguồn lực của họ để thực hiện các công việc vận chuyển cũng như các công việc liên quan khác của chuỗi hoạt động logistics cho các bên có nhu cầu.
Các doanh nghiệp có nhu cầu thuê ngoài đơn vị làm dịch vụ đồng thời cắt giảm công việc mà họ cần làm trong chuỗi hoạt động logistics, đảm bảo giao hàng kịp thời cho khách hàng của họ và giảm thiểu chi phí cho hoạt động logistics.2: Sơ đồ quy trình Logistics bên thứ hai Nguồn: VILAS 9 Logistics bên thứ ba - Third Party Logistics (3PL) Hình 1.3: Sơ đồ quy trình Logistics bên thứ ba Nguồn: VILAS 3PL bao gồm hoạt động thuê ngoài phần lớn hoặc thậm chí toàn bộ quy trình logistics của một công ty tại một nhà điều hành logistics bên ngoài. 3PL hoạt động như một trung gian giữa chủ hàng và khách hàng của họ, nhằm thực hiện các hoạt động trong một chuỗi các hoạt động logistics như: tổ chức hoạt động vận tải và cơ sở hạ tầng cho việc lưu kho, quản trị tồn kho, thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu,.Việc thuê ngoài các doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp thực hiện các hoạt động logistics giúp doanh nghiệp tập trung chuyên môn hóa hoạt động sản xuất, phát triển thị trường của mình. Các doanh nghiệp có thể ký hợp đồng với các công ty cung cấp dịch vụ 3PL khi cần thiết hoặc ký kết hợp đồng hợp tác dài hạn tùy thuộc vào mỗi doanh nghiệp. Việc tận dụng các bên thứ ba chuyên nghiệp giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, nguồn lực mà vẫn đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách hiệu quả.
Logistics bên thứ tư - Fourth Party Logistics (4PL) Logistics bên thứ tư là mô hình hoạt động nâng cấp hơn so với logistics bên thứ ba. Một nhà vận hành 4PL không chỉ tận dụng các nguồn lực sẵn có, họ còn thực hiện thuê ngoài các nhà vận hành 3PL để hoàn thành công việc do chủ hàng yêu cầu. Nhà vận hành 4PL cũng vì thế quản lý toàn bộ quá trình của chuỗi cung ứng từ sản xuất, lưu kho, phân phối hàng đến người tiêu dùng của chủ hàng cũng như chịu trách nhiệm trong việc thiết kế, quản lý, xây dựng và tối ưu chuỗi cung ứng. Thêm vào đó, 4PL cũng chịu trách nhiệm kết nối các chủ hàng và nhà cung cấp dịch vụ 3PL, người mà chỉ đảm nhận những hoạt động riêng lẻ của chuỗi hoạt động logistics.
Nói cách 10 khác, 4PL sẽ tích hợp thành một phần không thể thiếu đối với doanh nghiệp. Trong mô hình 4PL, các doanh nghiệp sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào các công ty logistics so với loại hình 3PL. Điều này cũng cho phép doanh nghiệp tập trung hơn vào quá trình phát triển sản phẩm của mình, thay vì phải phân tán cả cho chuỗi cung ứng cồng kềnh.4: Sơ đồ quy trình Logistics bên thứ tư Nguồn: VILAS Logistics bên thứ năm - Fifth Party Logistics (5PL) Thuật ngữ “5PL” hay “Logistics bên thứ năm” hiện vẫn đang là một thuật ngữ logistics khá mới. Nhà vận hành 5PL thực hiện kết hợp các dịch vụ vận tải và logistics sẵn có của nhà cung cấp 3PL cùng sự tối ưu hóa chuỗi cung ứng của nhà cung cấp 4PL.
Các nhà vận hành 5PL quản lý toàn bộ mạng lưới chuỗi cung ứng của doanh nghiệp bằng các công nghệ mới nhất. Vì thế, 5PL ngày càng phổ biến cùng sự phát triển của thương mại điện tử. Ngoài việc điều phối, quản lý các 3PL, 4PL trên các nền tảng thương mại điện tử, 5PL còn tìm kiếm cơ hội về cước phí vận chuyển, giám sát hành trình hàng hóa vận chuyển, cung cấp giải pháp thanh toán qua internet,. thông qua việc ứng dụng các công nghệ hiện đại để đáp ứng nhu cầu riêng biệt của từng khách hàng cũng như tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.5: Sơ đồ quy trình Logistics bên thứ năm Nguồn: VILAS 1.
Căn cứ vào quá trình vận hành Logistics đầu vào - Inbound Logistics Logistics đầu vào là quá trình liên kết các hoạt động liên quan đến dòng chảy các nguồn lực đầu vào cần thiết để tạo ra một sản phẩm. Quy trình logistics đầu vào bao gồm việc quản lý nhà cung cấp, thu mua nguyên liệu đầu vào, chi phí, hàng tồn kho và vận tải nhằm đảm bảo các thành phần, nguyên liệu, bán thành phẩm đến nhà máy sản xuất, nhà kho đúng hạn. Logistics đầu vào nhìn chung khá phức tạp bởi hàng trăm các chi tiết nguyên liệu thô cùng được kết hợp để sản xuất ra một sản phẩm cuối cùng. Vì thế, việc theo dõi liên tục, quản lý nguồn cung đầu vào là một trong những cách thức hiệu quả hạn chế việc thu mua nguồn nguyên liệu đầu vào dư thừa gây lãng phí đồng thời đảm bảo nguồn doanh thu, lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp.
Logistics đầu ra - Outbound Logistics Logistics đầu ra đề cập đến các hoạt động vận chuyển đúng sản phẩm vào đúng thời gian tới tay khách hàng với chi phí tối thiểu.