Chương 1: Tình hình nghiên cứu kinh tế tri thức liên quan đến đề tài Chương 2: Lý luận về kinh tế tri thức trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Luan van 4 CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KINH TẾ TRI THỨC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Kinh tế tri thức Nhắc đến phát triển nền KTTT là nói đến vai trò và trách nhiệm của mọi Nhà nước trên thế giới trong đó có Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước có một vai trò rất quan trọng trong phát triển xã hội nói chung và phát triển kinh tế nói riêng.
Nhiều năm trở lại đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về KTTT cả ở trong nước và ngoài nước, những công trình này đã được vận dụng vào công việc quản lý kinh tế, xây dựng chiến lược, chính sách và định hướng phát triển KTTT ở nhiều nước trên thế giới. Cách đây 160 năm, người đầu tiên là nhà triết học, nhà kinh tế học người Đức, gốc Do thái Karl Marx (05/05/1818 - 14/03/1883) đã đưa ra nhận định về xu thế nhất thể hóa giữa khoa học và sản xuất bằng luận điểm nổi tiếng “Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. Cho đến nay, luận điểm này đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của nền sản xuất hiện đại trên thế giới. Khoa học và công nghệ hiện đại đang ngày càng có vai trò vô cùng quan trọng trong nền sản xuất kinh tế của xã hội và trong đời sống của con người, đồng thời là một đặc điểm nổi bật của thời đại và là yếu tố đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
Mặc dù vậy, nhưng xã hội hiện đại ngày nay vẫn hoài nghi luận điểm của ông. Vì vậy, cho đến ngày hôm nay, tác giả vẫn ghi nhận những đóng góp của ông là những trang tài liệu quý giá để cho tác giả bước lên một nấc thang mới hoàn thiện luận văn này. Đến năm 1954, Peter Drucker (19/11/1909 - 11/11/2005) là nhà kinh tế học người Áo, sau đó nhập cư vào Mỹ năm 1940. Trong tác phẩm “The practice of management” (thực hành quản lý) xuất bản năm 1954, ông là tác giả của cuốn sách này và đã phân tích những thay đổi to lớn trong cơ cấu ngành kinh tế, xã hội, sức sáng tạo, phát triển công nghệ của con người và viết một cách khái quát về xã hội tri thức, nền KTTT như sau: Luan van 5 “Ngày mai sẽ đến gần hơn là chúng ta nghĩ.
Trong thế giới các nước phát triển, xã hội mới này sẽ quan trọng rất nhiều so với bất kỳ một nền kinh tế mới nào. Xã hội đó rất khác với xã hội cuối thế kỷ XX và cũng khác với điều mà phần lớn chúng ta nghĩ. Rất nhiều cảnh tượng của xã hội đó từ trước tới giờ chưa từng thấy, nhưng hầu hết chúng đã có sẵn và sẽ trỗi dậy nhanh chóng. Xã hội sắp tới là xã hội tri thức.
Tri thức sẽ là nguồn lực chủ chốt nhất, và công nhân tri thức trở thành bộ phận quan trọng nhất trong lực lượng lao động. Ba đặc trưng cơ bản của xã hội đó sẽ là: - Không biên giới, vì tri thức vận chuyển dễ dàng hơn tiền bạc - Những ai được hưởng sự giáo dục tốt sẽ giàu có lên nhanh chóng - Khả năng thất bại và thành công là như nhau. Ai cũng có thể có được “phương tiện lao động”, tức là tri thức cần cho việc làm, nhưng không phải ai cũng thành công. Peter Drucker là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Ngành công nghiệp tri thức”, “Công nhân tri thức” và đến năm 1969 được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Nền kinh tế tri thức”.
Đến Năm 1973, Danienl Bell (10/05/1919 - 25/01/2011) một nhà xã hội học người Mỹ đã giảng dạy tại Đại học Harvard trong tác phẩm “The coming of Pots - Industrial Society” (Xã hội hậu công nghiệp). Ông là nười đặt nền móng đầu tiên cho xã hội hiện đại lúc bấy giờ, xã hội hậu công nghiệp là một xã hội trong đó công nghiệp chế biến giảm dần do sự tăng trưởng nhanh trong lĩnh vực dịch vụ và thông tin. Trái tim của xã hội hậu công nghiệp là việc làm chuyên nghiệp và kỹ thuật, đặc biệt là các nhà khoa học và kỹ sư có chuyên môm sâu và rộng trong một lĩnh vực, những người thông qua giáo dục và đào tạo có các kỹ năng cần thiết để duy trì. (Daniel Bell 1973, 1976, page 36) Điều này dẫn đến việc tăng tầm quan trọng và khối lượng thông tin trong lưu thông và từ đó dẫn đến sự thay đổi về chất cho xã hội.
Chuyển đổi từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức là quá trình chuyển biến toàn diện cả về kinh tế và xã hội, trong đó tri thức đóng vai trò trung tâm, là nguồn gốc của mọi sự thay đổi và phát triển. Nhà nước trong vai trò kiến tạo nền kinh tế tri thức Tại Hội nghị thượng đỉnh tháng 11/2001 tại Thượng Hải (Trung Quốc). Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) trong chủ đề “Meeting New Challenge in the new Century” (Đối mặt thách thức mới trong thế kỷ mới) đã ra tuyên bố chung cùng hướng về KTTT để tiến vào thế kỷ XXI. Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 19 tại bang Hawaii (Mỹ) tháng 11/2011, thông qua “Tuyên bố Honolulu-Hướng tới một nền kinh tế khu vực gắn kết” và 4 văn kiện kèm theo về thúc đẩy chính sáng tạo hiệu quả, không phân biệt đối xử và theo hướng thị trường, tăng cường tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào chuỗi sản xuất toàn cầu; thương mại, đầu tư trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường, và đẩy mạnh thực hiện các điển hình tốt về quản lý.
Điểm chung mà Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đều nhấn mạnh trong các định hướng chiến lược liên quan chặt chẽ với vai trò của chính phủ của các thành viên APEC là việc đổi mới cơ chế chính sách, hướng vào trọng tâm khuyến khích mạnh mẽ các hoạt động đổi mới và sáng tạo, mà chủ yếu là khu vực tư nhân. Tháng 12 năm 2007 tại Lisbon, sau khi người Pháp và người Hà Lan “khai tử” Hiến pháp, Liên minh châu Âu (EU) chuyển hướng ưu tiên sang lĩnh vực tri thức, khoa học, công nghệ. Mục tiêu được nêu bật ngay từ những dòng đầu tiên của Hiệp ước thay thế Hiến pháp châu Âu: “Từ nay đến năm 2010, xây dựng Liên minh châu Âu thành một nền KTTT có sức cạnh tranh và năng động nhất thế giới”. Nói một cách chính xác hơn, EU dành 3% GDP của mình để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
Lãnh đạo cấp cao của 27 nước tham gia Hội nghị thượng đỉnh mùa xuân 2010 tại Bruc-xen (Bỉ) đã thông qua về tổng thể bản dự thảo chiến lược kinh tế mới của toàn bộ Liên minh châu Âu: Chiến lược “Châu Âu 2020” do Uỷ ban châu Âu soạn thảo và trình bày. Kế hoạch này được soạn thảo nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực, bảo đảm việc làm, và xây dựng một nền kinh tế sạch, thân thiện với môi trường. Chiến lược “Châu Âu 2020” xác định 3 động lực chính của tăng trưởng kinh tế là: tăng trưởng hợp lý (thúc đẩy phát triển tri thức, sáng tạo, giáo dục và xã hội số); tăng trưởng bền vững (sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao khả năng cạnh tranh); tăng trưởng liên kết (tăng việc làm và chống đói nghèo). Luan van 7 Tóm lại, các nước trên thế giới đều đã xây dựng chiến lược và kế hoạch để phát triển KTTT hoặc điều chỉnh chiến lược phát triển nền kinh tế theo hướng nền KTTT.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 1. Kinh tế tri thức Tại Hà nội, ngày 21-22/06/2000. Ban khoa giáo Trung ương - Bộ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ ngoại giao đã kết hợp tổ chức hội thảo toàn quốc với chủ đề “KTTT và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” đây là hội thảo có tầm cỡ quốc gia đầu tiên, tạo cơ sở lý luận, thực tiễn, xây dựng, KTTT của Việt Nam. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã cho xuất bản cuốn sách “KTTT: nhận thức và hành động, kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển” Nxb Thống kê năm 2000, tác giả đã phác họa bức tranh toàn cảnh về nền KTTT, những quan niệm, nhận định, nghiên cứu tình huống về các nước trên thế giới, đánh giá tác động của KTTT đến các nước đang phát triển.
Công trình này đã đưa ra một giác độ tiếp cận kinh nghiệm cho các nước muốn phát triển nền KTTT, nhưng chưa ra các giải pháp gì và còn nằm trong bối cảnh phát triển nền công nghiệp. Ở trường ĐHNT có một đề tài nghiên cứu cấp Bộ “KTTT và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ tri thức Việt Nam” mã số B2002-40-23 của Tiến sĩ Trần Văn Khái. Hiện nay, thầy là PGS.TS Trần Văn Khái, Nguyên lãnh đạo trưởng khoa Lý Luận Chính Trị của trường ĐHNT. Công trình này đã đưa đến một cách tiếp cận về tầm quan trọng của nguồn nhân lực trên bình diện toàn quốc bó hẹp trong phạm vi giáo dục và đào tạo ra nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội.
Tác giả chưa nghiên cứu và diễn giải cho phát triển nền KTTT. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) xuất bản thông tin chuyên đề “Từng bước phát triển kinh tế tri thức (Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị về giải pháp của Việt Nam) số 6 năm 2004. Chuyên đề đã đưa ra một số quan niệm và thực tiễn trên thế giới về KTTT, cung cấp một cách tiếp cận KTTT tổng thể hơn ở Việt Nam và trên thế giới. Công trình này chưa nghiên cứu trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.
Năm 2006, Luận án tiến sĩ “Phát triển KTTT và tác động của quá trình đó đến sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp Luan van 8 hóa, hiện đại hóa” LA 06.1 của tác giả Nguyễn Công Sơn, Học viện chính trị quân sự - Bộ quốc phòng. Luận án đã nghiên cứu phát triển KTTT và tác động của KTTT đến việc xây dựng lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.