Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ sau tác động sâu rộng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2007–2008. Đến cuối năm 2010, toàn hệ thống ghi nhận có tới 10 ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ dưới 2.000 tỷ đồng, chưa đáp ứng quy định vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng liên tục từ 1,55% năm 2007 lên 2,47% vào tháng 6/2011, trong khi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế ước tính nợ xấu thực tế lên tới khoảng 13%. Trước nguy cơ mất thanh khoản và áp lực mở cửa thị trường theo cam kết WTO, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trở thành công cụ sống còn để tái cơ cấu hệ thống định chế tài chính.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thu Phương tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để phát triển lành mạnh và gia tăng hiệu quả các giao dịch M&A trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm tại Việt Nam? Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận M&A chuyên ngành tài chính; phân tích toàn diện thực trạng quy mô vốn, công nghệ, quản trị rủi ro và khung pháp lý giai đoạn 1997 đến giữa năm 2011; đúc kết bài học quốc tế từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho Chính phủ, tổ chức trung gian tư vấn và các bên tham gia giao dịch.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các định chế tài chính tại Việt Nam từ năm 1997 đến nửa đầu năm 2011, trọng tâm là giai đoạn 2008–2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi định hình lộ trình nâng quy mô vốn chủ sở hữu ngân hàng Việt Nam, vốn còn rất nhỏ bé khi so sánh với mức 14.462 triệu USD của OCBC hay 27.117 triệu USD của DBS Singapore, nhằm đảm bảo an toàn hệ thống và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng dựa trên ba lý thuyết kinh tế hiện đại: lý thuyết hiệu quả kinh tế nhờ quy mô (Economies of Scale), lý thuyết hợp lực cạnh tranh (Synergy Theory) và lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm phân tán rủi ro phi hệ thống. Hoạt động M&A tài chính được phân loại theo ba hình thức liên kết: sáp nhập theo chiều ngang (giữa các ngân hàng bán lẻ nhằm mở rộng thị phần), sáp nhập theo chiều dọc (ngân hàng mua lại công ty cung cấp giải pháp thanh toán thẻ) và sáp nhập kết hợp tập đoàn (hình thành các tập đoàn tài chính đa năng).

Nghiên cứu làm rõ sự khác biệt giữa M&A thân thiện (thương lượng tự nguyện, hoán đổi cổ phiếu) và M&A thù nghịch (chào thầu công khai - tender offer, lôi kéo cổ đông bất mãn, thu gom cổ phiếu nhỏ giọt trên sàn chứng khoán). Hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính sở hữu những đặc thù nghiêm ngặt: các định chế luôn chịu áp lực tăng vốn tự có, chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước và có mức độ rủi ro lan truyền hệ thống rất cao. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này giai đoạn 2010–2011 chủ yếu căn cứ vào Thông tư 04/2010/TT-NHNN, Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở mức 30% đối với ngân hàng và 49% đối với công ty chứng khoán.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa, được thu thập từ báo cáo thường niên giai đoạn 2005–2010 của hơn 30 ngân hàng thương mại, dữ liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (với tổng số 49 doanh nghiệp bảo hiểm).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, 60 công ty chứng khoán có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng, 49 doanh nghiệp bảo hiểm và các thương vụ M&A điển hình như thương vụ Liên Việt Bank hợp nhất mạng lưới với VNPost, HSBC mua cổ phần chiến lược tại Bảo Việt, cùng các ca sáp nhập trong ngành kiểm toán. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp thống kê mô tả, phân tích định tính và so sánh đối chiếu được áp dụng để làm rõ bức tranh toàn cảnh. Phương pháp phân tích lịch sử theo 3 giai đoạn (1997–2004, 2005–nửa đầu 2008, 2008–nửa đầu 2011) kết hợp nghiên cứu tình huống giúp nhận diện chính xác các rào cản về vốn, năng lực thẩm định và khung thể chế trong suốt 14 năm phát triển của thị trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô vốn của các định chế tài chính Việt Nam phân mảnh và quá nhỏ bé. Tính đến 31/12/2010, ngoài Agribank có vốn điều lệ trên 1 tỷ USD (đạt 21.000 tỷ đồng), các ngân hàng lớn như BIDV (14.600 tỷ đồng), Vietinbank (17.174 tỷ đồng), Vietcombank (14.256 tỷ đồng) đều có vốn chủ sở hữu dưới 1,1 tỷ USD. Toàn hệ thống có 10 ngân hàng chưa đạt mức vốn 2.000 tỷ đồng. Trong khối công ty tài chính, chỉ duy nhất PVFC đạt vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng, 6 công ty có vốn dưới 3.000 tỷ đồng và 3 công ty chưa đạt vốn pháp định.

Thứ hai, thị trường chứng khoán đối mặt với làn sóng thua lỗ diện rộng và dư thừa các tổ chức yếu kém. Đến quý I/2011, có tới 35 công ty chứng khoán có vốn điều lệ dưới 300 tỷ đồng, chỉ có 7 công ty sở hữu vốn từ 1.000 tỷ đồng trở lên. Số lượng công ty chứng khoán báo lỗ tăng từ 20 đơn vị năm 2010 lên 65 đơn vị trong quý I/2011 và 61 đơn vị trong quý II/2011. Có 27 công ty quản lý quỹ liên tục thua lỗ. Đến tháng 5/2011, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã phải đưa 15 công ty chứng khoán vào diện kiểm soát đặc biệt do mất an toàn tài chính.

Thứ ba, áp lực nợ xấu và khoảng cách đầu tư công nghệ gia tăng nghiêm trọng. Nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng từ 1,55% năm 2007 lên 2,05% năm 2009 và 2,47% vào tháng 6/2011, trong đó nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) chiếm tới 40% tại các ngân hàng yếu kém. Chi phí đầu tư công nghệ ngân hàng lõi Corebanking rất đắt đỏ (ví dụ VPBank chi tới 4 triệu USD năm 2006 để trang bị phần mềm T24 của Temenos), dẫn tới việc chỉ có khoảng 10 ngân hàng lớn xây dựng được trung tâm dự phòng thảm họa độc lập.

Thứ tư, thị trường bảo hiểm có sự mở rộng nhanh chóng với 49 doanh nghiệp (27 phi nhân thọ, 11 nhân thọ, 10 môi giới, 1 tái bảo hiểm), song các doanh nghiệp trong nước chịu sức ép cạnh tranh khốc liệt từ khối ngoại và phải hoàn tất lộ trình tăng vốn pháp định lên mức 300 tỷ đồng đối với phi nhân thọ và 600 tỷ đồng đối với nhân thọ theo Nghị định 46/2007/NĐ-CP.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân mảnh và thua lỗ bắt nguồn từ sự bùng nổ cấp phép thành lập mới trong giai đoạn 2006–2007, trong khi năng trị quản trị rủi ro không theo kịp tốc độ tăng trưởng tài sản. Dữ liệu thực chứng trong luận văn được minh họa rõ nét qua hệ thống 27 bảng thống kê chi tiết và biểu đồ phân bổ vốn, phản ánh sự tương phản sâu sắc giữa tốc độ gia tăng số lượng tổ chức tín dụng từ năm 1991 đến 2010 với năng lực tài chính thực tế.

So sánh với bài học quốc tế, Hoa Kỳ đã bảo vệ an toàn cho hơn 100 triệu người gửi tiền thông qua Quỹ Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) quy mô khoảng 50 tỷ USD với quy trình M&A ngân hàng có vấn đề rất chuẩn mực. Nhật Bản trong hai giai đoạn khủng hoảng đã xử lý thành công 180 ngân hàng đổ vỡ, trong đó 168 ca được xử lý bằng hình thức chuyển giao, tiếp nhận mua lại với tổng nguồn lực hỗ trợ lên tới 19 nghìn tỷ Yên (khoảng 162 tỷ USD, gồm 85 tỷ USD từ Chính phủ). Tại Việt Nam, Thông tư 04/2010/TT-NHNN mới chỉ dừng ở các quy định mang tính hành chính cho tổ chức tín dụng, hoàn toàn thiếu vắng cơ chế thành lập ngân hàng bắc cầu (Bridge Bank), thiếu cơ chế định giá tài sản độc lập và chưa có mạng lưới an toàn tài chính phối hợp chặt chẽ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế xử lý định chế tài chính yếu kém. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành luật hoặc nghị định chuyên trách về M&A tài chính trước năm 2013, bổ sung quy chế thành lập ngân hàng bắc cầu và cơ chế mua bán nợ bắt buộc nhằm kéo giảm tỷ lệ nợ xấu thực tế toàn ngành xuống dưới 3%. Cần thành lập cơ quan chuyên trách quản lý tập trung kinh tế trong lĩnh vực tài chính nhằm chấm dứt tình trạng quản lý chồng chéo.

Thứ hai, nâng cao vị thế và năng lực tài chính của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV). Học tập mô hình FDIC (Hoa Kỳ) và DICJ (Nhật Bản), cơ quan lập pháp cần sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi, nâng quy mô Quỹ dự phòng nghiệp vụ của DIV lên mức tối thiểu 15.000–20.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2012–2015. Cần trao quyền can thiệp sớm cho DIV để trực tiếp mua cổ phần, bảo lãnh tài chính và tổ chức tiếp nhận sáp nhập các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ và xây dựng mạng lưới tư vấn M&A chuyên nghiệp. Các tổ chức trung gian tư vấn tài chính, công ty chứng khoán, công ty kiểm toán cần liên kết chiến lược với các tổ chức tư vấn quốc tế để chuẩn hóa quy trình định giá, thẩm định pháp lý (Due Diligence). Mục tiêu rút ngắn thời gian thực hiện một thương vụ M&A từ 18–24 tháng xuống còn 6–9 tháng, đồng thời thúc đẩy sự ra đời của các công ty định mức tín nhiệm (CRA) độc lập.

Thứ tư, nâng cao năng lực nội tại và chiến lược quan hệ nhà đầu tư (IR) tại các tổ chức tham gia M&A. Các ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán phải khẩn trương hoàn thành lộ trình tăng vốn điều lệ lên trên 3.000 tỷ đồng (với ngân hàng) và 300 tỷ đồng (với công ty chứng khoán) theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP. Ban điều hành cần chủ động đào tạo văn hóa doanh nghiệp hậu M&A, chuẩn hóa báo cáo tài chính theo chuẩn mực IFRS và triển khai khung quản trị rủi ro theo hiệp ước Basel II trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam). Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và bài học quốc tế để xây dựng đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011–2015, kiểm soát nợ xấu 2,47% và hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn vĩ mô.

Thứ hai, Hội đồng quản trị và Ban điều hành các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty tài chính. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn thực tiễn về 5 phương thức thực hiện M&A, kỹ thuật phòng thủ chống thâu tóm thù nghịch và giải pháp dung hòa xung đột văn hóa doanh nghiệp sau sáp nhập.

Thứ ba, các tổ chức tư vấn M&A, quỹ đầu tư tài chính, công ty luật và kiểm toán độc lập. Tài liệu đóng vai trò như cẩm nang tham khảo về quy trình định giá tài sản vô hình, cấu trúc giao dịch hoán đổi cổ phiếu và cách thức xử lý nghĩa vụ nợ của 49 doanh nghiệp bảo hiểm và hơn 60 công ty chứng khoán nhỏ lẻ.

Thứ tư, chuyên gia phân tích, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là công trình học thuật giá trị, cung cấp bộ dữ liệu thứ cấp gồm 27 bảng biểu và hệ thống hóa lý luận M&A chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động M&A trong ngành tài chính khác biệt thế nào so với các ngành kinh doanh thông thường? M&A tài chính chịu sự giám sát đặc biệt nghiêm ngặt từ Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính do tính chất nhạy cảm và rủi ro lan truyền hệ thống. Giao dịch tác động trực tiếp đến an toàn tiền gửi của hàng chục triệu khách hàng và thanh khoản liên ngân hàng, đòi hỏi vốn tự có lớn và tuân thủ các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định thay vì chỉ dựa trên thỏa thuận thương mại đơn thuần.

Tại sao Thông tư 04/2010/TT-NHNN vẫn chưa bao quát hết thị trường M&A tài chính? Thông tư 04/2010/TT-NHNN mới chỉ quy định trình tự, thủ tục sáp nhập, hợp nhất và mua lại đối với các tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính). Văn bản này chưa điều chỉnh hoạt động M&A của 49 doanh nghiệp bảo hiểm, hơn 100 công ty chứng khoán và chưa đưa ra khung hướng dẫn cụ thể cho các thương vụ M&A chéo giữa ngân hàng với bảo hiểm hay chứng khoán.

Vì sao các ngân hàng thương mại chịu áp lực bắt buộc phải tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng? Nghị định 141/2006/NĐ-CP và Nghị định 10/2011/NĐ-CP đặt ra mức vốn pháp định 3.000 tỷ đồng nhằm loại bỏ các tổ chức quá nhỏ bé, gia tăng hệ số an toàn vốn CAR và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đến cuối năm 2010, việc vẫn còn 10 ngân hàng không đạt chuẩn vốn đã tạo ra sự méo mó trong cuộc đua lãi suất huy động, buộc cơ quan quản lý phải thúc đẩy làn sóng M&A để thanh lọc hệ thống.

Mô hình xử lý ngân hàng của FDIC (Hoa Kỳ) và DICJ (Nhật Bản) gợi mở bài học gì cho Việt Nam? Hoa Kỳ và Nhật Bản ưu tiên biện pháp tiếp nhận mua lại (Purchase and Assumption) thông qua cơ quan bảo hiểm tiền gửi với Quỹ dự phòng lên tới 50 tỷ USD tại Mỹ và 19 nghìn tỷ Yên tại Nhật Bản. Mô hình này giúp xử lý 168/180 ngân hàng đổ vỡ tại Nhật mà không gây hoảng loạn rút tiền, đồng thời cơ chế ngân hàng bắc cầu giúp duy trì tài sản tốt và khoanh vùng tài sản xấu hiệu quả.

Doanh nghiệp tài chính nên chọn hình thức M&A thân thiện hay M&A thù nghịch tại Việt Nam? Trong bối cảnh hệ thống tài chính Việt Nam còn non trẻ, tỷ lệ sở hữu cô đặc và khung pháp lý chưa hoàn thiện, M&A thân thiện thông qua thương lượng tự nguyện và hoán đổi cổ phiếu là lựa chọn tối ưu. Phương thức này giúp bảo toàn giá trị thương hiệu, chia sẻ nghĩa vụ thuế, giảm thiểu chi phí giao dịch và hạn chế tối đa nguy cơ xung đột văn hóa hậu sáp nhập.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phương thức thực hiện và tiêu chí phát triển hoạt động M&A chuyên ngành tài chính – ngân hàng.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng phân mảnh vốn tại 10 ngân hàng quy mô dưới 2.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 2,47% và tình trạng thua lỗ của 61 công ty chứng khoán vào quý II/2011.
  • Đúc kết 4 nhóm bài học quốc tế quý báu từ kinh nghiệm can thiệp của FDIC (Hoa Kỳ) và cơ chế ngân hàng bắc cầu của DICJ (Nhật Bản).
  • Kiến nghị 3 nhóm giải pháp đồng bộ cho cơ quan quản lý, định chế trung gian và các bên mua bán nhằm nâng cao tính minh bạch và an toàn hệ thống.
  • Đặt nền móng học thuật và thực tiễn cho đề án tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là cung cấp bức tranh dữ liệu xác thực, chỉ rõ M&A không chỉ là lối thoát cho các định chế tài chính yếu kém mà còn là công cụ chiến lược để nâng tầm tiềm lực tài chính quốc gia. Trong giai đoạn 2012–2015, các cơ quan quản lý cần khẩn trương hoàn thiện khung thể chế M&A chuyên biệt, nâng cấp mạng an toàn tài chính và chuẩn hóa quy trình định giá độc lập. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy khai thác chi tiết kho dữ liệu thực chứng 27 bảng biểu của luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác tái cấu trúc thị trường tài chính hiện đại.