CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP THÔNG TIN TÍN DỤNG CHO KHÁCH HÀNG VAY THỂ NHÂN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hoạt động thông tin tín dụng nói chung và hoạt động cung cấp thông tin tín dụng nói riêng đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Điển hình có thể kể tới các công trình nghiên cứu sau: Luận án tiến sỹ “ Giải pháp phát triển hệ thống thông tin tín dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay”(2007) của tác giả Nguyễn Hữu Đương đã trình bày, đó là: Bài toán mô hình kinh tế lượng chứng minh hiệu quả TTTD của tác giả Craig Mcintoshvà Brunce Wydick, giáo sư trường đại học Francisco, tháng 9/2004. Nghiên cứu về vai trò và hiệu quả của chia sẻ TTTD, của tác giả Tullio Jappalli và Mareo Pagano, năm 2005; Báo cáo kết quả khảo sát hoạt động TTTD trên thế giới năm 2001 và năm 2003; Nghiên cứu về hệ thống báo cáo TTTD trên toàn cầu, vai trò của nhà nước đối với hệ thống của tác giả Margaret miller, năm 2000; Nghiên cứu sự phát triển của hệ thống báo cáo TTTD trên thế giới của tác giả Leora Klapper, thuộc nhóm nghiên cứu phát triển về tài chính WB, năm 2004; Nghiên cứu sự phát triển của TTTD tiêu dùng ở Nam Á của nhóm nghiên cứu phát triển về tài chính WB, năm 2004; Nghiên cứu về xếp loại tín dụng (phương pháp, các chỉ tiêu và khả năng rủi ro tín dụng) biên soạn bởi Micheal K.Ong, nhà xuất bản RiskBook, năm 2003. Nhìn chung, các công trình trên thế giới về TTTD cũng chưa hệ thống, vẫn mang tính rời rạc, chủ yếu là tập trung nghiên cứu về hiệu quả, lợi ích của TTTD và xây dựng cơ chế vận hành cho cơ quan TTTD tư nhân, khuyến khích cho việc hình thành, phát triển cơ quan TTTD tư nhân tại các nước đang phát triển.
7 c Phạm Thị Mai Phương, 2012. Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam. Nghiên cứu cơ bản về sản phẩm cảnh báo đang có; một số vấn đề cơ bản của cảnh báo tín dụng; quy trình thu thập thông tin, các bước tiến hành cảnh báo rủi ro, làm rõ các chỉ tiêu phân tích, các phương pháp dùng trong cảnh báo tín dụng; thực trạng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng với những hạn chế, tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, tồn tại trên. Tác giả đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo tín dụng nhằm hỗ trợ việc đánh giá rủi ro sớm của Doanh nghiệp giúp cho tín dụng Ngân hàng tránh được những tổn thất, mất mát trong hoạt động cho vay của mình.
Trên cơ sở những thực trạng thực tế đang tiến hành tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể khắc phục những mặt còn tồn tại, nhằm củng cố, hoàn thiện và phát triển hoạt động cảnh báo tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng. Đăng Thị Thu Huyền, 2015. Phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam. Luận văn đã xây dựng cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động của Trung tâm Thông tin tín dụng.
Tác giả đưa ra 9 chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động thông tin tín dụng và vận dụng chúng trong đánh giá thực trạng phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam. Sử dụng cả phương pháp thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp, tác giả đã phân tích thực trạng trong chương 3 và chỉ ra những hạn chế trong phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam. Chất lượng thông tin đầu vào còn chưa cao, dẫn đến những sai sót trong các sản phẩm đầu ra của hoạt động cung cấp thông tin. Hơn 80% số người trả lời trong cuộc khảo sát đều cho rằng, một trong những mặt hạn chế từ hoạt động tín dụng là: hồ sơ pháp lý chưa thu thập được đầy đủ.
Trên cơ sở những hạn chế này, tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam trong tương lai. 8 c Lê Thị Thanh Tân, TS. Đặng Thị Việt Đức, 2017. Xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân tại trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam, bài nghiên cứu trên Tạp chí Tài chính, số 148.
Những năm gần đây, hoạt động cho vay thể nhân của các ngân hàng ngày càng mở rộng, trong khi đó thông tin đối với các khoản vay thể nhân thường khó nắm bắt hơn so với doanh nghiệp nên hoạt động xếp hạng tín dụng thể nhân trở nên cấp thiết hơn. Bài viết đánh giá thực trạng hoạt động xếp hạng tín dụng thể nhân tại Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam, từ đó đưa ra đề xuất liên quan tới mô hình xếp hạng và quy trình thu thập, trao đổi và đối chiếu thông tin đầu vào của mô hình nhằm hoàn thiện hoạt động xếp hạng tín dụng thể nhân tại tổ chức này. Phương Thị Quỳnh Trang, 2017. Hoạt động cung cấp thông tin tín dụng thể nhân tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.
Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động cung cấp thông tin tín dụng thể nhân, mang ý nghĩa thực tiễn để đảm bảo công tác quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, góp phần giảm thiểu rủi ro cho hoạt động ngân hàng bán lẻ của các Tổ chức tín dụng. Đối tượng nhận thông tin ở đây là Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức tín dụng. Nguyễn Thị Hải Yến, 2018. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam.
Luận văn của tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng dịch vụ thông tin tín dụng. Tác giả đã làm rõ khái niệm dịch vụ thông tin tín dụng, chất lượng dịch vụ thông tin tín dụng và các đặc điểm dịch vụ thông tin tín dụng. Đồng thời, tác giả tiến hành xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ thông tin tín dụng và nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về nâng cao chất lượng tín dụng thông tin tín dụng để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Dựa trên cơ sở lý luận này, tác giả 9 c tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ TTTD tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.
Theo đó, sau 15 năm thành lập và phát triển, hoạt động dịch vụ thông tin tín dụng tại CIC đã đạt những thành tựu đáng kể, cùng với chất lượng dịch vụ TTTD cũng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những tồn tại nhiều hạn chế về chất lượng dịch vụ TTTD mà Trung tâm cần khắc phục. Sử dụng thông tin sơ cấp thu thập bằng bảng hỏi điều tra khảo sát khách hàng, tác giả đã đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam. Từ kết quả của mô hình hồi quy, có thể thấy rằng đa số khách hàng của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia rất coi trọng tính đáp ứng trong hoạt động dịch vụ TTTD tại CIC, là tiêu chí quan trọng quyết định cảm nhận của KH đối với chất lượng dịch vụ,.
Với các kết quả thu thập được, tác giả cũng đã kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin tín dụng của CIC. Như vậy có thể thấy các đề tài nghiên cứu trên đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thông tin tín dụng nói chung và hoạt động cung cấp thông tin tín dụng nói riêng. Các công trình nghiên cứu này đều đánh giá thực trạng hoạt động thông tin tín dụng của CIC trên các khía cạnh khác nhau và đều đề xuất các giải pháp phát triển hoặc mở rộng hoạt động thông tin tín dụng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây đều chỉ nghiên cứu về hoạt động cung cấp thông tin tín dụng của CIC cho các NHTM là chủ yếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thẩm định khách hàng của các ngân hàng này.
Trong điều kiện nền tài chính ngân hàng ngày càng phát triển, không chỉ các NHTM mới có nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin tín dụng của CIC mà còn các chủ thể khác cũng có nhu cầu sử dụng. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển, mở rộng thêm hoạt động cung cấp thông tin tín dụng CIC cho 10 c khách hàng vay thể nhân là hoàn toàn cần thiết và không trùng lắp với các nghiên cứu trước đó.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động cung cấp thông tin tín dụng của Trung tâm thông tin tín dụng 1.1 Khái quát về Trung tâm thông tin tín dụng Về tên gọi: Cơ quan TTTD công thường được gọi là trung tâm TTTD hoặc cơ quan đăng ký tín dụng công. Thường được dùng ký hiệu viết tắt là PCR, thuộc sở hữu nhà nước, được thành lập bởi NHTW hoặc ủy ban thanh tra ngân hàng. Về mục tiêu hoạt động: PCR hoạt động trước hết vì mục tiêu an toàn và ổn định hệ thống tài chính của mỗi nước, PCR không kinh doanh, không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Về chức năng, nhiệm vụ: PCR có chức năng cung cấp thông tin cho NHTW để đưa ra các quy định và giám sát các tổ chức tài chính nhằm góp phần đảm bảo an toàn, phát triển bền vững hệ thống ngân hàng tài chính của mỗi nước. NHTW phát triển các chính sách tín dụng thận trọng và các nghiệp vụ cho các tổ chức tài chính, gồm cả trong kinh doanh và quản lý rủi ro tín dụng. Đây là một cách cung cấp các dịch vụ TTTD cho các tổ chức tài chính để họ có thể làm tốt hơn quyết định cho vay. PCR có chức năng thu thập TTTD về người vay và cung cấp thông tin trở lại cho người cho vay.
Đây là một nguồn thông tin được sử dụng bởi người cho vay để hỗ trợ họ xem xét lịch sử tín dụng của những người vay tiềm năng hay hiện thời. Về vai trò: Vai trò của PCR được thể hiện: Một là, giúp người cho vay nắm rõ về đặc tính của hồ sơ tín dụng và dự báo chính xác hơn khả năng trả nợ của người vay.