Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân và lược khảo các nghiên cứu liên quan về nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2.1 Cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Cho vay là một trong những hoạt động đặc trưng của NHTM. Hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM. Theo khoản 14 và 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: ”Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thỏa thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong đó:“Cấp tín dụng là việc các tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 có tham chiếu quyết định 312/QD-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng của Ngân hàng Nhà nước, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Hoạt động cho vay KHCN có thể được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là cá nhân một khoản tiền 7 để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đối tượng cho vay là các cá nhân - KHCN ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật.
Mục đích vay vốn đa dạng bao gồm vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng (mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng,…) và đáp ứng một số nhu cầu khác trong cuộc sống 2.2 Đặc điểm Theo Nguyễn Minh Kiều (2015) thì hoạt động cho vay KHCN có những đặc điểm sau: Hoạt động cho vay KHCN có tính đa dạng: Một là đa dạng về đối khách hàng. Hoạt động cho vay KHCN phục vụ cho đối tượng là cá nhân, hộ gia đình nên số lượng khách hàng đông. Tùy vào độ tuổi, ngành nghề, mức thu nhập,… KHCN thuộc nhiều tầng lớp và có các đặc điểm khác nhau về nhu cầu, chi tiêu tài chính do đó nhu cầu về dịch vụ ngân hàng cũng rất đa dạng phục vụ cho các mục đích cá nhân.Hai là là đang dạng về sản phẩm. Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và sự cạnh tranh của thị trường các ngân hàng không ngừng phát triển các sản phẩm cho vay mới nhằm thõa mãn yêu cầu của các nhóm khách hàng mục tiêu,….
Hoạt động cho vay KHCN có chi phí lớn: Quy mô của các khoản vay thường nhỏ nhưng số lượng nhiều, phân tán rộng nên để duy trì và phát triển hoạt động này cần tốn kém nhiều chi phí trong các công tác như: Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị trong việc tiếp cận khách hàng. Phát triển đội ngủ nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng, quản lý khách hàng nhanh chóng, chính xác từ các khâu tiếp nhận, thẩm định, quyết định cho vay và giải ngân, quản lý khách hàng sau giải ngân và thu nợ. Phát sinh nhiều chi phí liên quan như: Chi phí quản lý, chi phí vận hành,….Mặt khác từ những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình cho vay đặc biệt là cho vay tiêu dùng , mức độ rủi ro lớn chính vì vậy lãi suất cho vay đối với KHCN thường cao hơn khách hàng là chủ thể khác trong nền kinh tế. Để bù đắp cho các chi phí bỏ ra, đồng thời rủi ro của các khoản cho vay KHCN rủi ro cao nên lãi suất cho vay thường cao hơn so với các khoản vay khác của NHTM.
8 Hoạt động cho vay KHCN có những rủi ro nhất định: Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức thận trọng. Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua. Hạn mức cho vay KHCN được giới hạn dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo.
Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý. Như vậy, sẽ vừa thoả mãn nhu cầu vay của khách hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng 2.3 Phân loại Nguyễn Minh Kiều (2015) thì hoạt động cho vay KHCN thường là các khoản vay nhỏ, lẻ nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu, mua sắm của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay thường dùng cho các mục đích như mua nhà, xây, sửa chữa nhà cửa, mua sắm các thiết bị gia đình, phương tiện đi lại hay tài trợ cho các chi phí cá nhân như học phí, du học, du lịch,. Để quản lý tốt cho vay KHCN có nhiều tiêu thức để phân loại một khoản cho vay cụ thể như sau: (1) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình.
Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. - Cho vay sản xuất kinh doanh: Là khoản vay mục đích phục vụ cho nhu cầu bổ dùng vốn vào hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình như: Bổ sung vốn lưu 9 động, đầu tư tài sản cố định, đầu tư cơ sở vạt chất tùy theo phương án kinh doanh của khách hàng đề nghị. - Căn cứ vào thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn (2) Căn cứ vào phương thức hoàn trả - Cho vay trả góp: Là khoản vay mà khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi theo định kỳ phù hợp với tính chất nguồn thu của khách hàng. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng cho vay mua nhà, cho vay tiêu dùng.
- Cho vay phi trả góp: là khoản vay được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. (3) Căn cứ vào phương thức cho vay Gồm cho vay từng lần, cho vay hợp vốn, cho vay lưu vụ, cho vay theo hạn mức, cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, chiết khấu chứng từ có giá và các phương thức cho vay khác. (4) Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay Gồm cho vay có tài sản bảo đảm, cho vay không có tài sản bảo đảm 2.2 Phát triển và phát triển họat động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật, từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới”.
Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” (Giáo trình Triết học Mác - Lê nin, 2006). Phát triển phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau: – Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và ngoài nước. 1 – Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư.
– Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng. Từ trước đến nay, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về phát triển nhưng một cách chung nhất thì phát triển được xem là tiến trình biến đổi cả về mặt chất và mặt lượng. Như vậy, có thể hiểu phát triển cho vay KHCN của NHTM là sự biến đổi theo hướng phát triển về cả về lượng, chuyển dịch về cơ cấu (lượng) và về chất lượng hoạt động cho vay KHCN (chất) của NHTM nhằm mục đích mang lại giá trị, thương hiệu và uy tín nhiều hơn cho NHTM.