Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân hàng TMCP và phát triển hoạt động cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP 5 Chương 2: Đánh giá Phát triển hoạt động cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng Chương 3: Một số biện pháp phát triển hoạt động cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG TMCP VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VVN TẠI NGÂN HÀNG TMCP 1. Khái niệm về Phát triển hoạt động cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Khoản 7, Điều 1, Luật Doanh nghiệp (DN) năm 2014 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau có thể chia DN thành các loại khác nhau như, dựa theo hình thức sở hữu: DN nhà nước, DN tư nhân, DN sở hữu hỗn hợp, theo mục tiêu sản xuất: DN hoạt động kinh doanh, DN hoạt động công ích, theo ngành nghề lĩnh vực kinh doanh: DN tài chính, DN phi tài chính, theo qui mô hoạt động: DN lớn, DN vừa và nhỏ,. Việc qui định thế nào là DN lớn, thế nào là DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó mỗi nước lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia thành DN lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế.
Tại Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, Nghị định này đưa ra định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của 7 doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Ở một số NHTM ở Việt Nam theo tintucketoan.com đánh giá “DN là DNNVV hay không dựa vào bảng chấm điểm quy mô theo tiêu chí: nguồn vốn KD, lao động, doanh thu thuần, nộp ngân sách. Theo đó thì DN lớn (70- 100 điểm), DN vừa (30-69 điểm), DN nhỏ (dưới 30 điểm). Như vậy, cho đến nay khái niệm DNNVV đã được điều chỉnh, chi tiết cụ thể hơn cho phù hợp với điều kiện PT của các ngành nghề theo quy mô vốn và số lao động” Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 10 người 10 tỷ đồng mại và dịch người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP) 1. Khái niệm về cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN Theo chủ nghĩa Marx- Lenin “Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian 8 nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức). Điều kiện tồn tại của tư bản cho vay là sản phẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình” Theo khoản 1, Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 30/12/2016 về Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010 “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như cá nhân, các DN… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khải niệm cho vay có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau.
Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì DNNVV là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ưu điểm của DNNVV không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư. Tóm lại, như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Cho vay DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thương mại cho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Khái niệm về phát triển cho vay Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP “Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của một sự vật, hiện tượng nào đó.
Quá trình phát triển có thể diễn ra từ từ hoặc diễn ra nhanh chóng (hay còn gọi là nhảy vọt) để sinh ra những sự vật, hiện tượng 9 mới thay thế cho những sự vật, hiện tượng cũ. Sự phát triển là quá trình vận động, thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Chu kỳ này diễn ra theo hình xoắn ốc, nghĩa là đi hết một chu kỳ thì quá trình phát triển sẽ quay lại mức ban đầu và tiếp tục vận động để có sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất (nhưng ở một cấp độ cao hơn chu kỳ ban đầu)” [19] “Phát triển là phạm trù Triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trên thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất.
Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong. Phạm trù phát triển thể hiện một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy. Điều đó có nghĩa là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kỳ sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Phương thức thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt. Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc” [20, tr. 424] Chính vì vậy, phát triển cho vay khách hàng dooanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng thì phát triển cho vay doanh nghiệp theo chiều rộng có thể được hiểu là việc gia tăng tỷ trọng về quy mô khách hàng doanh nghiệp trong tài sản của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Bên cạnh đó, cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM hiện nay, việc 10 phát triển cho vay có thể bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau như: mở rộng quy mô, loại hình cho vay, phạm vi hay đối tượng cho vay, địa bàn hoạt động.
Đồng thời với việc phát triển về chiều rộng là việc phát triển về chiều sâu. Đối với hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp, phát triển về chiều sâu gồm: Cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp… 1. Nội dung về phát triển cho Khách hàng Doanh nghiệp VVN tại Ngân hàng TMCP “Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn” [19] Phát triển hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại đối với DNVVN là việc các ngân hàng này liên tục mở rộng quy mô, ngày càng đa dạng hóa cơ cấu các sản phẩm cho vay, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng dư nợ và tăng doanh số cho vay đối với khách hàng DNVVN trên cơ sở đảm bảo chất lượng cho vay, kiểm soát rủi ro, phục vụ cho kế hoạch kinh doanh đã đề ra của ngân hàng. Sự phát triển về chỉ tiêu cho vay đối với khách hàng DNVVN được tính bằng số tương đối hay số tuyệt đối của doanh số cho vay kỳ sau so với kỳ trước. Giá trị tương đối thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, giá trị tuyệt đối thể hiện quy mô tăng trưởng của hoạt động cho vay. Tuy nhiên nếu 11 phát triển về hoạt động cho vay mà không quản lý được chất lượng vốn vay, phát triển số lượng khách hàng không đi liền với chất lượng an toán vốn vay thì sẽ gây ra hậu quả xấu, dẫn đến nguy cơ mất vốn và đe dọa trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy phát triển hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng DNVVN không chỉ là sự mở rộng về quy mô tín dụng mà còn là chất lượng cho vay, phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn.