Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bán buôn tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động bán buôn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN Hà Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bán buôn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - CN Hà Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động ngân hàng bán buôn của ngân hàng thƣơng mại 1.
Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo Luật ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo quy định tại điều 4, Luật các TCTD Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010: “NH là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động NH theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH bao gồm NHTM, NH chính sách, NH hợp tác xã” [10, trang 3].
Từ đó có thể nói bản chất của NHTM là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ NH. Như vậy, có thể phân biệt NHTM với các trung gian tài chính ở chỗ NHTM là tổ chức kinh tế duy nhất được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Như vậy có thể nói: “Ngân hàng thương mại là một Tổ chức kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó để cho vay, làm phương tiện thanh toán và thực hiện các dịch vụ theo uỷ thác của khách hàng” 1. Hoạt động của NH thương mại - Hoạt động huy động vốn 7 NH sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay, đầu tư và thực hiện nghiệp vụ khác, do đó, hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của NH.
Hoạt động huy động vốn chính của NHTM bao gồm: + Huy động vốn tự có Mỗi NHTM muốn thành lập và đi vào hoạt động cần phải có một nguồn vốn nhất định ban đầu, trong quá trình hoạt động kinh doanh, nguồn vốn này được không ngừng bổ sung thông qua nhiều phương cách + Hoạt động vốn tiền gửi Một trong những yếu tố quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM là tiền gửi. NH huy động vốn tiền gửi từ cá nhân, tổ chức kinh tế dưới nhiều hình thức như tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán,… Mỗi NHTM thường đưa ra nhiều SP huy động khác nhau, phù hợp với nhu cầu của KH. + Huy động nguồn vốn đi vay Trong những trường hợp khẩn cấp, để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong trường hợp NHTM thiếu hụt dự trữ bắt buộc hoặc dữ trữ thanh toán, NH phải vay của NHNN hoặc các TCTD khác trên thị trường tiền tệ với mục đích bù đắp các khoản thiếu hụt đó. + Nguồn vốn huy động khác: ngoài các nguồn vốn từ huy động, đi vay, NHTM còn có một số nguồn vốn khác như vốn ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, thu hộ, bảo lãnh… - Hoạt động sử dụng vốn + Hoạt động tín dụng Đây là hoạt động sử dụng vốn đặc trưng, quan trọng và mang lại nguồn thu lớn nhất cho NH.
NHTM sẽ sử dụng số tiền huy động được đem cho vay và thu lãi. Một điểm đáng lưu ý trong hoạt động tín dụng là vấn đề về rủi ro. 8 NH muốn hoạt động hiệu quả thì phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng đồng thời quản lý rủi ro ở mức thấp nhất có thể. + Hoạt động đầu tư Bên cạnh việc cho vay, NHTM còn tăng trưởng doanh thu bằng việc đầu tư.
Đối tượng đầu tư thường là chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao hoặc chứng khoán trung và dài hạn hưởng lợi tức cao. Hoạt động đầu tư góp phần đa dạng lợi tức, hỗ trợ cho việc đảm bảoan toàn thanh khoản của NHTM. + Hoạt động thanh toán Một trong số các HĐKD cơ bản của NHTM là hoạt động trung gian thanh toán, không những giúp tăng trưởng doanh thu còn thể hiện vị thế của NHTM trong toàn hệ thống. Các DV thanh toán phổ biến của NHTM là: UNT, UNC, chuyển tiền 24/7, chuyển tiền trong nước và quốc tế, thanh toán L/C,… Ngoài ra NH còn cung cấp một số DV khác như DV thẻ, bảo hiểm, giữ hộ tài sản quý, giấy tờ có giá,… 1.
Hoạt động NH bán buôn của NH thương mại 1. Khái niệm hoạt động NH bán buôn Hoạt động NHBB ra đời và được nói tới đầu tiên tại các quốc gia phát triển như Mỹ và châu Âu và dần dần được sử dụng trên phạm vi toàn thế giới. Khái niệm hoạt động NHBB ra đời từ sự hình thành các thị trường tài chính bán buôn ở các nước phát triển, được phát triển trong quá trình toàn cầu hóa hoạt động NH và được áp dụng ngày càng nhiều trong tài trợ quốc tế. Tuy nhiên khái niệm hoạt động NHBB lại không thống nhất với nhau trên toàn thế giới.
Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện của các thị trường các quốc gia mà người ta sử dụng khái niệm này với nội hàm không hoàn toàn giống nhau. 9 Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ bán buôn tức là bán cho người kinh doanh trung gian, chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng, đối lại với bán lẻ là bán với số lượng ít và bán trực tiếp cho người tiêu dùng. NH bán buôn dùng để chỉ các giao dịch giữa NH và KH lớn (công ty) hoặc giao dịch với những khoản tiền lớn (tiền gửi lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng và cho vay tới trăm tỷ đồng). Hoạt động NHBB ra đời gắn liền với sự phát triển của các thị trường bán buôn, sau đó phát triển theo sự phát triển của NH đa quốc gia và được ứng dụng linh hoạt trong tài trợ phát triển quốc tế.
Từ đó có thể rút ra khái niệm về hoạt động NHBB: “Hoạt động NHBB là hoạt động cung cấp các dịch vụ cho đối tượng KH là các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng, các công ty tài chính và các định chế tài chính khác”. Bên cạnh đó, KHBB được định nghĩa là các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng, các công ty tài chính và các định chế tài chính khác. Theo quy định của Vietcombank, Khách hàng được phân loại vào KHBB là các công ty có doanh thu theo năm tài chính gần nhất từ 100 tỷ trở lên và các ngân hàng, các công ty tài chính và các định chế tài chính khác. Đặc điểm hoạt động NH bán buôn Hoạt động NHBB có những đặc điểm sau: Thứ nhất, NHTM có quy mô lớn và vị thế trong hệ thống NHTM Việt Nam đủ tiêu chuẩn để cung cấp dịch vụ NHBB.
Các tiêu chí để xác định NH quy mô lớn gồm có: Vốn, tổng tài sản, hệ thống CN và số lượng lao động. Việc xác định quy mô NH còn tùy thuộc vào từng không gian cụ thể. Không có một chỉ tiêu định lượng chắc chắn để xác định quy mô của NH. Tùy vào đặc điểm của hệ thống NH của từng nước mà xây dựng tiêu chí để xác định quy mô.
Thứ hai, dịch vụ NHBB hướng đến đối tượng là KH lớn Có thể nói đây là đặc điểm và là tiêu chí chính để phân biệt dịch vụ 10 NHBB và NHBL. Dịch vụ NHBB nhằm vào các đối tượng sau: + Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ. + Các TCTD khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính. + Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty có quy mô lớn.
+ Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ, nhất là những NH quy mô nhỏ, không đủ nguồn vốn huy động dành cho hoạt động cấp tín dụng, các NHTM này sẽ tiến hành đi vay từ các NH lớn. Thứ ba, NHBB có dịch vụ điển hình là cấp tín dụng NHBB thường cấp các khoản tín dụng lớn: Thông thường những khoản tín dụng vượt quá thẩm quyền phán xét của giám đốc CN (đối với NH vừa và nhỏ) hoặc vượt quá thẩm quyền phán xét của trưởng phòng tín dụng (đối với NH lớn) được coi là khoản tín dụng có giá trị lớn. Có quan điểm cho rằng nên lấy vốn tự có để so sánh, nếu khoản tín dụng chiếm tỷ lệ từ 5% vốn tự có trở lên, thì khoản tín dụng đó được coi là bán buôn. + Các khoản tín dụng được thực hiện theo hợp đồng tín dụng giữa NHBB với các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các tổ chức,.
+ Lãi suất tín dụng (lãi suất cho vay) được áp dụng theo cơ chế ưu đãi lãi suất, thường thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường NHBL. Thứ tư, số lượng KH nhỏ So với KH cá nhân, KHDN lớn là đối tượng KH thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn hơn về doanh số giao dịch. Theo thống kê của NHNN, số lượng KHBB thường chiếm từ 10% đến 30% tổng số KH của NHTM. Thứ năm, giá trị giao dịch lớn, chi phí bình quân trên mỗi giao dịch nhỏ Với đặc điểm KH là các tổ chức kinh tế đa dạng, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau nên nhu cầu rất lớn, giá trị giao dịch cao.
Do số lượng KH 11 nhỏ nên giao dịch với KH của NHBB, NH có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế nhờ quy mô giao dịch. Thứ sáu, quy trình thực hiện giao dịch NHBB mất nhiều thời gian và độ phức tạp cao, đòi hỏi sự an toàn cũng như thận trọng trong các giao dịch, ví dụ như để có thể thực hiện nghiệp vụ tư vấn phát hành trái phiếu cho DN, NH phải thẩm định phương án của KH lâu hơn đối với thực hiện dịch vụ cho KHCN. Thứ bảy, thu nhập do KH mang lại rất lớn Với một tỷ trọng KH nhỏ nhưng có thể mang lại thu nhập khá lớn cho NH. Chính vì vậy, rủi ro trong kinh doanh NHBB rất cao khi các KH từ bỏ NH này để đến với một NH khác có điều kiện tốt hơn.
Thứ tám, chi phí hoạt động trung bình thấp Dịch vụ NHBB thường không đòi hỏi phải trang bị nhiều về mạng lưới phân phối và nguồn nhân lực vì số lượng KH ít hơn nhiều so với NHBL.