chương I của Luật Du lịch Việt Nam ban hành tháng 06/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 định nghĩa “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử- văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [14]. ➢ Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ. Bao gồm: hệ thống đường xá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện nước…[2,tr188].
Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ, hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bao gồm: các khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ.2 Khách du lịch, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế. 13 Theo Luật Du lịch Việt Nam ban hành tháng 06/2005 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [14]. Theo điều 34 chương V của Luật Du lịch Việt Nam ban hành tháng 06/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 định nghĩa: “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”.
“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.3 Khái niệm và đặc điểm của du lịch biển, đảo. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch thì du lịch được phân thành nhiều loại hình như: du lịch nghỉ núi, du lịch thành phố, du lịch biển, đảo… Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển, đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu…Loại hình du lịch này có tính mùa rõ rệt [2,tr76].2 Đặc điểm của du lịch biển, đảo. Tùy thuộc vào vị trí địa lý của từng nơi, số lượng biển, đảo để hình thành nên du lịch biển, đảo tại nơi đó.
Nếu một nơi không có biển, đảo thì không thể nào hoạt động du lịch biển, đảo. ➢ Tính mùa vụ. Hoạt động du lịch biển, đảo chịu ảnh hưởng của yếu tố khí hậu, vào mùa hè là mùa cao điểm của du lịch biển đảo bởi thời tiết nóng bức nên nhu 14 cầu tắm biển, nghỉ dưỡng tăng cao, còn vào mùa đông du lịch biển, đảo lại trở thành mùa thấp điểm vì mùa đông thời tiết lạnh không thích hợp cho loại hình du lịch tắm biển. Ngoài ra tính chất thất thường của thời tiết như mưa, bão…cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch biển, đảo.
➢ Sự đa dạng về các loại hình du lịch. Du lịch biển, đảo là sự tổng hợp đa dạng nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu, thám hiểm, cắm trại…vì vậy có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng khác nhau của du khách.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển, đảo trong xu thế hội nhập quốc tế. Tình hình kinh tế-chính trị trên thế giới, khu vực và quốc gia: kinh tế trong khu vực và thế giới phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng khá ổn định là yếu tố quyết định thu hút các dòng đầu tư du lịch. Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng đến hoạt động của ngành du lịch.
Một số quốc gia, khu vực có chiến tranh, xung đột cục bộ, phân biệt tôn giáo, phân biệt chủng tộc, trật tự an toàn xã hội không đảm bảo, nạn khủng bố…xảy ra thường xuyên cũng ảnh hưởng tới số lượng khách du lịch đến quốc gia đó. Các chính sách điều tiết của nhà nước, môi trường pháp lý và thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong chính sách thu hút đầu tư để phát triển du lịch, quản lý kinh doanh các hoạt động du lịch. Đối thủ cạnh tranh: nhận định và hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh chính, đối thủ cạnh tranh tìm ẩn đang ở vị trí nào, khả năng họ thay đổi chiến lược như thế nào, phản ứng của họ với những thay đổi môi trường bên ngoài như thế nào. Tài nguyên thiên nhiên như sông, suối, biển, núi rừng, đất đai, khí hậu, động thực vật…và yếu tố văn hóa như phong tục tập quán cổ truyền, di tích 15 văn hóa lịch sử…là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong phát triển du lịch, góp phần tạo ra sức hấp dẫn du khách bằng các đặc sản văn hóa của địa phương.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội làm xuất hiện nhu cầu du lịch như ở các nước có nền kinh tế phát triển thì nhu cầu nghỉ ngơi du lịch rất đa dạng. Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối tuần, hằng năm du khách còn đòi hỏi những đợt nghỉ dài ở vùng biển, vùng núi hay ở nước ngoài. Hay các nước có nền kinh tế phát triển thì có điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng để phát triển du lịch như đường sá, phương tiện giao thông, nhà hàng, khách sạn. Du lịch chắc chắn không thể phát triển mạnh được nếu thiếu sự hỗ trợ của cách mạng khoa học kỹ thuật và quá trình công nghiệp hóa.
Cuộc cách mạng này đã tác động đến mọi ngành sản xuất như điện nước, xử lý chất thải, bưu chính viễn thông, y tế…hoàn thiện cơ cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước phát triển mới vững chắc hơn. Điều kiện sống của người dân được nâng cao như việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục; hay người dân có quỹ thời gian nhàn rỗi nhiều hơn như số ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ tăng là điều kiện cần thiết để con người tham gia vào hoạt động du lịch. Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của nhân dân nước đó tăng lên rõ rệt do nhu cầu tìm hiểu, khám phá những vùng đất mới hay người dân sẽ có thái độ văn minh lịch sự đối với khách du lịch khi đến đất nước của họ. Đảm bảo nguồn vốn để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh du lịch là rất cần thiết vì ngành du lịch là ngành luôn đi đầu về phương diện tiện nghi hiện đại và là ngành liên tục đổi mới.
Tác động của du lịch biển, đảo đến kinh tế, môi trường, xã hội trong xu thế hội nhập quốc tế. ➢ Tác động tích cực: Đối với môi trường tự nhiên, du lịch biển, đảo góp phần tu sửa phát triển cảnh quan đô thị như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, tăng phương tiện vệ sinh công cộng, hệ thống đường sá, thông tin, năng lượng, xử lý chất thải được cải thiện. Bên cạnh đó, tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống chưa được sử dụng hiệu quả. Góp phần tích cực vào việc bảo tồn các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên, bảo tồn hệ thống đền đài lịch sử, kiến trúc mỹ thuật.
Đối với văn hóa – xã hội, du lịch biển, đảo giúp thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau làm gia tăng sự đoàn kết quốc tế, hòa bình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Phát triển du lịch có lợi cho việc bảo tồn và phát triển văn hóa nhân gian. Ngoài ra, du lịch biển, đảo còn tạo ra việc làm ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định xã hội như: giảm bớt việc người dân địa phương đi nơi khác tìm việc làm, tăng thu nhập của dân địa phương, nâng cao trình độ nghiệp vụ của người dân. Đối với kinh tế, du lịch biển, đảo góp phần tăng GDP cho nền kinh tế quốc dân: ở nhiều nước trên thế giới, du lịch biển, đảo đã từ lâu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Du lịch biển, đảo góp phần thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ các mặt hàng ăn uống, rau quả, hàng lưu niệm và đồng thời du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước chủ nhà. Du lịch biển, đảo tạo cơ hội giải quyết việc làm: với sự phát triển nhanh chóng và do đặc thù nên ngành du lịch biển, đảo có hệ số sử dụng lao động rất cao. Sự đầu tư xuất phát từ du lịch biển, đảo sẽ kéo theo sự bùng nổ đầu tư ở các ngành sản xuất và dịch vụ khác như xây dựng, giao thông vận tải, tiểu thủ 17 công nghiệp, điện, nước, bưu chính viễn thông, thu gom rác thải…để cải thiện chất lượng cuộc sống cho cư dân cũng như du khách. Phát triển du lịch biển, đảo có lợi cho việc cải thiện môi trường đầu tư, xúc tiến, mở cửa với bên ngoài.
Du lịch biển, đảo là hình thức quan trọng của việc truyền bá kỹ thuật và giao lưu nghiên cứu khoa học. ➢ Tác động tiêu cực: Đối với môi trường tự nhiên, việc giải phóng mặt bằng và san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể gây ra xói mòn và sụt lở đất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng mặt nước. Nguồn nước bị ô nhiễm do các chất thải chưa được xử lý vào nguồn nước. Bụi và các chất gây ô nhiễm không khí xuất hiện chủ yếu là do các hoạt động giao thông, do sản xuất, khí thải từ các loại máy xây dựng và sử dụng năng lượng.
Trạng thái ồn ào phát sinh do việc tăng cường sử dụng các phương tiện giải trí, phương tiện cơ giới, hoạt động của các nhà hàng, karaoke, dịch vụ ăn uống…Thêm vào đó, ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên nhiên làm cho một số loài động vật bị mất nơi cư trú.