phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ ở Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Gia Lai. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Gia Lai. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ Ở NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về phát triển dịch vụ thẻ tại các Ngân hàng Thƣơng mại 1. Sự hình thành và phát triển của thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng đầu tiên ra đời năm 1949 do Frank Mc Namara, một doanh nhân ngƣời Mỹ sáng chế. Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng, ông bỗng phát hiện ra mình không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện cho vợ nhanh chóng mang tiền đến thanh toán.
Tình trạng khó xử này đã khiến ông mày mò chế tạo một phƣơng tiện chi trả tiền mặt trong những trƣờng hợp tƣơng tự nhƣ thế. Thế là lần đầu tiên Mc Namara cho ra đời loại thẻ mang tên Diners Club. Năm 1950, những chiếc thẻ nhựa đầu tiên đƣợc đƣa vào lƣu hành rộng rãi, những ngƣời có thẻ Diners Club này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5 USD. Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây đƣợc sự chú ý và đã chinh phục một lƣợng đông đảo khách hàng do họ có thể mua hàng trƣớc mà không phải chi trả tiền ngay.
Đến năm 1955 hàng loạt thẻ mới ra đời nhƣ Trip charge, Golden key, Gourmet Club và đến năm 1958, Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trƣờng. Lúc đầu phần lớn thẻ chỉ dùng cho giới doanh nhân nhƣng các ngân hàng đã thấy rằng giới bình dân mới là đối tƣợng sử dụng chủ yếu trong tƣơng lai. Với sự thay đổi chiến lƣợc khách hàng của mình, các ngân hàng nhanh chóng xâm nhập vào thị trƣờng thẻ và coi đây là thị trƣờng tiềm năng [16]. Ngân hàng Mỹ là nơi đầu tiên phát hành thẻ Bank American mà ngày nay là Visa Card.
Năm 1966 Bank American bắt đầu liên kết với các liên bang khác để phát triển mạng lƣới thẻ này. Trong khi thẻ Bank American đang thành công rực rỡ thì các tổ chức phát hành thẻ khác cũng đang tìm kiếm khả năng cạnh tranh với loại thẻ này. Năm 1966, một hiệp hội ngân hàng mới, trong đó gồm 14 ngân hàng của Mỹ đã xây dựng một hệ thống giao dịch tự động nối mạng trong thanh toán thẻ tín 2 dụng. Ngay sau đó, năm 1967, có 4 ngân hàng bang Califonia có hiệp hội thẻ mang tên Wessten State Bank Card Association đã liên kết với hiệp hội ngân hàng Interbank phát hành thẻ Master Charge mà ngày nay có tên là Master Card.
Năm 1979, tổ chức thẻ quốc tế Master Card đƣợc thành lập. Hiện nay hiệp hội có tới 29000 thành viên [16]. Bên cạnh Visa Card và Master Card, thẻ American Express và JCB của Nhật Bản cũng vƣơn lên mạnh mẽ. Doanh thu của các loại thẻ này cũng lên tới hàng trăm tỷ USD với hàng chục triệu thẻ lƣu hành.
Với sự phát triển của thẻ thanh toán, các hiệp hội đang cạnh tranh nhau quyết liệt nhằm dành phần lớn thị trƣơng cho mình. Sự cạnh tranh này tạo điều kiện cho thẻ thanh toán có cơ hội phát triển trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, phải đối mặt với 2 cuộc chiến tranh lớn nên nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, cần nhiều thời gian để khôi phục và phát triển. Chính vì thế thẻ ngân hàng xuất hiện ở nƣớc ta khá muộn so với các nƣớc khác trong khu vực.
Mãi đến năm 1990, thẻ tín dụng quốc tế mới lần đầu tiên có mặt tại Hà Nội do Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam khi ấy làm đại lý thanh toán cho các định chế tài chính quốc tế. Phải đến năm 1993 Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam mới phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên. Cũng vào năm này, hội các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam đƣợc thành lập với 4 thành viên sáng lập gồm Vietcombank, Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu và First Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do thống đốc ngân hàng Nhà nƣớc ký ban hành ngày 10/04/1993, quy định “thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”.
Việc ứng dụng thẻ tại Việt Nam vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh nghiệm, hạ tầng kỹ thuật…Trên cơ sở thỏa thuận của ngân hàng Nhà nƣớc, ngân hàng thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng quy chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ [1]. Ban đầu loại hình sản phẩm này phát triển khá chậm, chủ yếu là dành cho các 3 khách hàng là ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời có thu nhập cao. Nhƣng theo thời gian, cùng với sự đi lên của đất nƣớc ta, các ngân hàng trong nƣớc đã đƣa ra thêm nhiều dòng sản phẩm thẻ, không chỉ là thẻ tín dụng mà còn có thẻ ghi nợ dành cho nhiều khách hàng nội địa. Trong những năm qua, dịch vụ thẻ đã phát triển với tốc độ cao, đặc biệt là 5 năm trở lại đây, từ việc thẻ ngân hàng đƣợc xem nhƣ một tài sản hay thƣơng hiệu đối với những gƣơng mặt thành đạt đến nay đã trở thành những công cụ thanh toán thông dụng.
Tính đến nay, toàn thị trƣờng thẻ Việt Nam có 52 tổ chức tham gia phát hành thẻ đƣợc gần 57,1 triệu thẻ. Toàn bộ hệ thống có 46 ngân hàng thƣơng mại trang bị máy ATM/POS với số lƣợng đạt đến 14. Nhìn chung, thị trƣờng thẻ tăng trƣởng cao, các sản phẩm thẻ ngày càng đa dạng và phong phú. Trong đó, thẻ ghi nợ tuy ra đời chậm hơn nhƣng có tốc độ tăng trƣởng khá cao.
Khái niệm dịch vụ thẻ +) Khái niệm dịch vụ Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy đƣợc và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hóa dƣới dạng vật chất của nó” [9]. +) Khái niệm thẻ Cùng với các phƣơng tiện thanh toán đã có từ lâu nhƣ tiền giấy, tiền kim loại, séc… Hiện nay, trên thế giới và cả ở Việt Nam thẻ thanh toán đã trở thành phƣơng tiện thanh toán thông minh và hiện đại nhất. Vậy thẻ thanh toán là gì? Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán nhƣ: - Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phƣơng tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
4 - Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính đƣợc phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty. - Thẻ thanh toán là phƣơng thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán… Tóm lại, từ các khái niệm trên có thể hiểu “Thẻ thanh toán là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, mà ngƣời sở hữu thẻ có thể sử sụng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (máy ATM), các quầy dịch vụ của ngân hàng, đồng thời có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ (có thiết bị đọc thẻ – máy chà tay hoá đơn hoặc máy POS)” [5]. +) Khái niệm dịch vụ thẻ Dịch vụ thẻ là một loại hình dịch vụ thuộc nhóm các dịch vụ bán lẻ hay còn gọi là dịch vụ cá nhân của một ngân hàng hiện đại.
Đây là một dịch vụ mà trong đó ngân hàng sẽ cung cấp một công cụ thanh toán, thẻ thanh toán, cho các khách hàng, để khách hàng sử dụng các tính năng tiện ích và các dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp thông qua công cụ thanh toán này. Theo góc độ lịch sử, dịch vụ thẻ ban đầu đƣợc phát triển bởi các tổ chức, cá nhân phi ngân hàng. Khi đó, với mục đích thay thế cho tiền mặt và các khoản vay ứng trƣớc, các thẻ thanh toán đƣợc phát hành và đƣợc chấp nhận thanh toán trong tổ chức và các cá nhân đó. Cùng với thời gian, các tổ chức thẻ nhƣ JCB, DINNERS ra đời và tiếp đó là các tổ chức thẻ AMEX, VISA và MASTERCARD đƣợc hình thành và phát triển.
Lúc này, với khối lƣợng giao dịch thanh toán không ngừng phát triển, các ngân hàng đó tham gia vào hoạt động của các tổ chức thẻ này với vai trò là trung gian thanh toán, tiến tới là thành viên chính thức trên cả hai mảng phát hành và thanh toán thẻ. Qua đó, dịch vụ thẻ tại ngân hàng đã phát triển thành một loại hình dịch vụ cá nhân của các ngân hàng, với khối lƣợng thẻ phát hành và số lƣợng, giá trị giao dịch thanh toán xử lý không ngừng gia tăng…. Phân loại thẻ thanh toán 5 Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, ngƣời ta có thể phân thẻ thanh toán ra thành nhiều loại khác nhau, cụ thể nhƣ sau: +) Phân loại theo công nghệ sản xuất - Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ đƣợc chế tạo dựa trên công nghệ khắc chữ nổi trên bề mặt thẻ. Mặc dù, tấm thẻ đầu tiên đƣợc sản xuất dựa trên công nghệ này nhƣng hiện nay loại thẻ này không còn đƣợc sử dụng phổ biến nữa bởi kĩ thuật thô sơ khiến loại thẻ này rất dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ: là loại thẻ đƣợc sản xuất dựa trên công nghệ thƣ tín, với 2 băng từ chứa những thông tin cố định về chủ thẻ. Nhƣợc điểm của loại thẻ này đó là thông tin ghi trên thẻ không thể tự mã hoá đƣợc, thẻ chỉ mang các thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng đƣợc kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin… - Thẻ thông minh: là loại thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học.