mở đầu cho phương thức thanh toán mới này tại Việt Nam. Từ sự ra đời và phát triển hoạt động thanh toán thẻ, có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty qua đó chủ thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, hay các máy rút tiền tự động. Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán mà người chủ sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM, DAB), các quầy tự động của ngân hàng (GAB) hoặc có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa và dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ thanh toán. [1] Trong quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày Luan van 9 15/05/2007 của NHNN Việt Nam khái niệm thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.
Theo IPSO (tổ chức dịch vụ thanh toán của Ireland) khái niệm: “Thẻ thanh toán là một thẻ nhựa được chủ thẻ sử dụng thanh toán tại cửa hàng hay doanh nghiệp bán lẻ. Thẻ này thường được kết nối với tài khoản thanh toán. Khi một giao dịch được thực hiện số tiền bán hàng sẽ được ghi có vào tài khoản của doanh nghiệp bán lẻ và ghi nợ vào vào tài khoản của chủ thẻ”. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung thẻ thanh toán được hiểu là: “Thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt mà các chủ thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ hay rút tiền mặt từ các máy rút tiền tự động, ngân hàng, cơ sở chấp nhận thẻ”.
Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán Mỗi một ngân hàng phát hành thẻ dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung cấu tạo của các loại thẻ hiện nay được làm bằng nhựa cứng, hình chữ nhật với kích cỡ theo chuẩn hóa quốc tế là 96mm x 54mm x 0.76mm, có 4 góc tròn, gồm 3 lớp: lõi thẻ là lớp nhựa cứng ở giữa và 2 lớp nhựa cán phủ hai mặt. Trên mỗi thẻ thanh toán thể hiện 3 đặc điểm cơ bản: Thông tin của ngân hàng phát hành; Thông tin của thẻ; Tính năng của thẻ. - Thông tin của ngân hàng phát hành: gồm tên và biểu tượng của NH phát hành. Biểu tượng này do ngân hàng phát hành thiết kế và in lên mặt trước của thẻ.
Đây là biểu tượng rất khó giả mạo, do vậy nó cũng được xem là yếu tố an ninh chống giả mạo. Ví dụ: + Mặt trước của thẻ in logo của tổ chức phát hành thẻ: Visa, Master, JCB, American Express… Luan van 10 + Biểu tượng của Visa là hình con chim bồ câu đang bay trong không gian ba chiều. + Biểu tượng JCB là chữ JCB được lồng trong 3 gạch song song liền nhau với màu sắc khác nhau. - Thông tin của thẻ: bao gồm các nội dung như: tên loại thẻ, số thẻ; ngày hiệu lực của thẻ; họ và tên của chủ thẻ; hình ảnh của chủ thẻ (có ở một số loại thẻ như thẻ liên kết sinh viên, thẻ tín dụng); số mật mã đợt phát hành.
Ngoài ra, mặt sau thẻ có chứa dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin cần thiết, và băng chữ ký chứa chữ ký của chủ thẻ. + Tên loại thẻ: trên thẻ có in chữ Visa Debit là thẻ ghi nợ quốc tế của Visa, hoặc trên thẻ có in chữ MasterCard Platinum là thẻ tín dụng quốc tế MasterCard hạng bạch kim. + Số thẻ: Đây là phần dành riêng cho mỗi chủ thẻ, số được dập nổi lên trên thẻ, số này sẽ được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng. Tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
+ Ngày hiệu lực của thẻ: đây là thời hạn mà thẻ được lưu hành. Có 2 cách ghi: Từ ngày …. đến ngày… Ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ + Họ và tên của chủ thẻ: in bằng chữ nổi Do thẻ không được chuyển nhượng nên: Nếu là tên cá nhân: là thẻ cá nhân Nếu là tên công ty và tên người được ủy quyền sử dụng: thẻ công ty + Số mật mã đợt phát hành: số này không bắt buộc và thường chỉ thẻ Amex in số này. - Tính năng của thẻ: tên gọi của từng loại thẻ thể hiện tính chất thanh toán thẻ, liên quan đến hoạt động nghiệp vụ thanh toán thẻ.
Thông thường đặc Luan van 11 điểm này được thể hiện qua tên gọi của từng loại thẻ như: thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế, thẻ tín dụng quốc tế… 1. Phân loại thẻ thanh toán Căn cứ vào từng tiêu chí khác nhau để phân loại thẻ thanh toán. Những tiêu chí chủ yếu để phân loại thẻ thanh toán bao gồm: chủ thể phát hành, công nghệ sản xuất, hay phương thức hoàn trả… a. Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): loại thẻ này giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại NH, hoặc sử dụng một số tiền do NH cấp tín dụng.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà có thể lưu hành trên toàn thế giới (ví dụ: thẻ Visa, Master, JCB…) Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí gọi tắt là T&E (Travel and Entertainment) của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Dinners Club, American Express. nhằm tạo thêm tiện ích cho khách hàng cũng như thuận lợi trong việc quản lý tài chính và kích thích tiêu dùng. Ngoài ra, một số công ty lớn cũng phát hành thẻ riêng cho các đối tượng của công ty hướng theo mục đích kinh doanh: công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn… b. Phân loại theo công nghệ sản xuất Thẻ khắc chữ nổi (Embossing card): đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi với các thông tin cần thiết được khắc trên thẻ.
Công nghệ này được sử dụng từ khi phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên và hiện nay không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Các thông tin Luan van 12 này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường.
Tuy nhiên nó tồn tại một số nhược điểm là thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy tính nên khả năng bị lợi dụng cao; thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Vì những nhược điểm này nên thời gian qua chủ thẻ băng từ bị lợi dụng lấy cắp tiền. Thẻ thông minh (Smart Card/Chip Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Loại thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một “chip” điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ, dữ liệu và thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được lưu trữ trong bộ nhớ điện tử.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của thẻ “chip” điện tử khác nhau. Thông thường một tấm thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ, có trường hợp thẻ thông minh có cả chip điện tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu. Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mới nên giá thành cao, chi phí cho hệ thống máy móc chấp nhận thanh toán thẻ này cũng cao nên việc sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ.
Việc phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn khuyến khích các NH thành viên phát hành và thanh toán loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ Nếu xét theo tính chất thanh toán của thẻ, thẻ thanh toán được chia làm hai loại sau: Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau, cho phép chủ thẻ được sử dụng một hạn Luan van 13 mức tín dụng quy định không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn…chấp nhận loại thẻ này. Tuy vậy, nếu đến thời hạn mà một phần hay toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho NH thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả. Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và được thanh toán trên phạm vi toàn thế giới.
Trên thị trường thẻ hiện nay, các loại thẻ tín dụng được khách hàng sử dụng phổ biến là Visa, MasterCard, thẻ chuẩn và thẻ vàng. Thẻ ghi nợ (Debit Card): loại thẻ này có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản.
Ví dụ: thẻ liên kết đồng thương hiệu giữa Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (VBSP) dành cho khách hàng là học sinh, sinh viên vay vốn của VBSP. Một số dạng khác của thẻ ghi nợ: + Thẻ tính tiền (Charge Card): là một hình thức thẻ ghi nợ nhưng thẻ tính tiền được phát hành theo phương thức giống như thẻ tín dụng, tuy nhiên hàng tháng chủ thẻ phải hoàn trả đầy đủ hóa đơn thanh toán.