CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NHTM 1.Cơ sở lý luận về dịch vụ thẻ tại NHTM 1. Khái niệm Thẻ ngân hàng ra đời xuất phát từ nhu cầu thanh toán và được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông. Hình thành và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20, thẻ ngân hàng là một phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đồng thời đã và đang phản ánh đầy đủ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và văn minh xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện.
Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các Tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Do đặc điểm dùng để thanh toán là chính nên thẻ ngân hàng còn được gọi là thẻ thanh toán. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán. Mỗi khái niệm dựa trên những góc độ nghiên cứu khác nhau, thể hiện một nội dung nổi bật nào đó của thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty, qua đó chủ thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Tại Việt Nam, khái niệm về thẻ thanh toán được quy định tại điều 2 của Quy 6 chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, cụ thể: Thẻ thanh toán là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Như vậy, tựu chung lại có thể thấy bản chất của thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền vay hoặc tiền của chính chủ thẻ trong tài khoản ngân hàng.
Phân loại thẻ Hiện nay, trên thị trường đang lưu hành rất nhiều loại thẻ. Tùy theo những tiêu thức khác nhau mà thẻ được phân chia thành nhiều loại. Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối và chủ yếu nhằm phục vụ công tác đánh giá phân tích. Có thể phân loại thẻ theo một số tiêu thức sau: Theo công nghệ sản xuất: thẻ được chia thành 03 loại: Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, nghĩa là trên bề mặt thẻ được khắc nổi toàn bộ các thông tin cần thiết về chủ thẻ cũng như tài khoản.
Ngày nay, loại thẻ này không còn được sử dụng nữa do công nghệ quá thô sơ và dễ bị làm giả. Thẻ băng từ: dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đã được phổ biến trong 20 năm qua nhưng cũng bộc lộ nhiều nhược điểm như thẻ chỉ mang thông tin cố định, thông tin trên thẻ không tự mã hóa được, không gian chứa dữ liệu ít… Thẻ thông minh: là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. Loại thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chíp điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy vi tính nhỏ, dữ liệu và thông 7 tin liên quan đến khách hàng sẽ lưu trữ trong bộ nhớ điện tử.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của thẻ chíp điện tử khác nhau. Là loại thẻ có độ an toàn và tính bảo mật cao, tuy nhiên chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cũng rất cao. Theo tính chất thanh toán của thẻ: gồm 3 loại thẻ Thẻ tín dụng: là loại thẻ mà chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ. Gọi là tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ nhất định.
Thẻ tín dụng cũng được chia thành nhiều loại khác nhau phù hợp với khả năng tài chính và nhu cầu chi tiêu của chủ thẻ. Thẻ ghi nợ: là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này ngoài việc thực hiện rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động thì còn có thể thực hiện thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ. Tuy nhiên điểm khác biệt là sau khi thanh toán, giá trị các giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại nơi thanh toán.
Mặt khác, thẻ ghi nợ cũng không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư khả dụng trên tài khoản của chủ thẻ. Thẻ rút tiền mặt: là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đối với chủ thẻ loại này là phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi. Thẻ rút tiền có hai loại: Loại 1: Chỉ rút tiền tại các máy rút tiền tự động của Ngân hàng phát hành Loại 2: Được sử dụng để rút tiền ở cả máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành và của các ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với ngân hàng phát hành.
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ: gồm 2 loại thẻ Thẻ nội địa: được giới hạn trong phạm vi quốc gia, đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của nước đó. Thường là thẻ ghi nợ do các ngân hàng trong nước phát hành, sử dụng tại hệ thống ATM và mạng lưới các ĐVCNT. 8 Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận thanh toán trên phạm vi toàn cầu, sử dụng các đồng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Để phát hành được loại thẻ này, tổ chức phát hành thẻ phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định về phát hành, thanh toán thẻ do tổ chức thẻ quốc tế phát hành.
Và với những lợi ích như vậy, khách hàng sẽ phải chịu phí cao hơn so với thẻ nội địa, đặc biệt là phí liên quan đến chuyển đổi ngoại tệ giữa các quốc gia. Phân loại theo chủ thể phát hành: gồm 2 loại Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng như Visa card, Master card… Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn …phát hành nhằm tạo thêm tiện ích cho khách hàng cũng như thuận tiện cho công tác quản lý tài chính và kích thích tiêu dùng như Amex, Diner’club… 1. Các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán thẻ. Theo Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam, các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán thẻ được hiểu như sau: Tổ chức phát hành thẻ: Là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngân hàng, trong đó có nghiệp vụ phát hành thẻ và bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Với thẻ nội địa, tổ chức phát hành thẻ phải có năng lực tài chính, không vi phạm pháp luật, đảm bảo hệ thống trang thiết bị phù hợp tiêu chuẩn an toàn cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn để vận hành và quản lý. Với thẻ quốc tế, tổ chức phát hành thẻ phải được NHNN cấp giấy phép hoạt động ngoại hối và cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế. 9 Tổ chức phát hành thẻ trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ của khách hàng, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho khách hàng là chủ thẻ. Tổ chức phát hành thẻ có quyền kí hợp đồng đại lý với bên thứ 3 là một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ.
Từng định kỳ, tổ chức phát hành thẻ phải lập bảng sao kê ghi rõ các khoản cụ thể đã sử dụng và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ ghi nợ. Chủ thẻ Là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên thỏa thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận đó. Chủ thẻ phụ là cá nhân được chủ thẻ chính cho phép sử dụng thẻ theo thỏa thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ.
Chủ thẻ phụ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính. Chủ thẻ phụ phải được chủ thẻ chính cam kết thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ.