lời mở đầu, kết luận, thì bố cục bài khoá luận sẽ gồm các phần sau: - Chương.1: ý luận về những yếu tố cơ bản của phát triển sản phẩm thẻ. - Chương 2: Thực trạng sản phẩm dịch vụ thanh toán thẻ tại ngân hàng TMCP Á Châu ACB. - Chương 3: ề xuất biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại và một số kiến nghị. Trong thời gian phát triển đề tài, em đã nhận sự giúp đỡ, quan tâm của cô ,thầy cũng như là toàn bộ đội ngũ nhân viên làm việc tại chi nhánh ngân hàng.
Em xin chân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Tường Vân đã chuyên tâm giúp đỡ em thực hiện đề tài này. Em cũng xin trân trọng cảm ơn các anh chị nhân viên làm việc tại ngân hàng TMCP Á CB Hà ông đã hỗ trợ nhiệt tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập cũng như là phát triển đề tài. Vì kiến thức hạn chế, hiểu biết thực tế chưa nhiều và thời gian thực hiện có hạn nên bài khóa luận của em khó có thể không mắc những thiếu sót.
Do vậy, em hi vọng sẽ có được những góp ý của các thầy cô để bài viết trở nên hoàn thiện hơn. 6 HƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ Ơ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THẺ 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA CÁC NHTM 1. Tính tất yếu và sự ra đời của thẻ ngân hàng Từ xa xưa, loài người đã có nhu cầu trao đổi hàng hóa, mà tiền ra đời đóng vai trò là vật trung gian của quá trình này.
Hay chúng ta có thể nói rằng tiền tệ là một phạm trù lịch sử; ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với tiến trình ra đời, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ngoài những chức năng cơ bản như thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán…, tiền tệ còn là phương tiện để thực hiện các hoạt động khác như tín dụng, đầu tư,… Trong giai đoạn hiện nay, tiền tệ có sự thay đổi về vai trò và vị trí. Tiền tệ là một trong những công cụ để nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế theo một chính sách nhất định của mình, nó liên quan mật thiết với thị trường và thể hiện sự tổng hợp thông tin về các thị trường đó. Qua thời gian, quá trình vận động của tiền tệ trong nền kinh tế, trong dân cư và qua các tổ chức Ngân hàng đã phát sinh ra việc có người tạm thời sở hữu tiền nhàn rỗi hoặc có ý định đầu tư sinh lãi, trong khi có người khác thiếu vốn để sản xuất kinh doanh.
ây là cơ sở khách quan để tín dụng ra đời. Hiểu một các tổng quát thì tín dụng là sự vay mượn có hoàn trả. Bên cạnh các chức năng của tiền tệ và tín dụng, chức năng thanh toán của ngân hàng chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Với chức năng này, các NHT đóng vai trò trung gian thực hiện các yêu cầu của khách hàng nhằm thỏa mãn mục đích của họ thông qua các hình thức thanh toán, thu/chi hộ, chuyển tiền,… bằng cách trích chuyển trên sổ sách ghi chép, luân chuyển thông tin từ quyền sở hữu của người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác mà không sử dụng đến tiền mặt.
Việc tiến hành thanh toán theo nguyên tắc trên được gọi chung là thanh toán không dùng tiền mặt. ây là cơ sở để luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. Với các chức năng tiền tệ và tín dụng ngày một phát triển dựa trên cơ sở thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng giữa các nước đã trở nên khá phổ biến và đặc biệt là dựa vào nền tảng phát triển công nghệ tin học, một hình thức thanh toán, một phương tiện thanh toán văn minh mới đã ra đời, nhanh chóng được đời sống xã 7 hội ở nhiều quốc gia thừa nhận và phát triển, đó là: hình thức thanh toán thẻ. Hình thức thanh toán thẻ là sự kết hợp song song cùng các nghiệp vụ của Ngân hàng như tiền gửi, cho vay,…Và trên cơ sở là sự thay đổi về công nghệ tạo nên nhiều bước tiến mới.
Do vậy, thẻ ra đời như một tất yếu khách quan trong thời đại ngày nay. Khái niệm, đặc điểm và phân loại thẻ 1. Khái niệm Xét từ các góc độ, nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về thẻ. Song, tựu chung lại, bản chất của thẻ là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do Ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp.
Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của Ngân hàng hoặc tổ chức phát hành ra nó, đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của Ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại Ngân hàng. Bản chất của thẻ có thể hiểu thông qua các khái niệm về thẻ như sau: + Dưới góc độ tổng quát: Thẻ là một danh từ chung chỉ một vật nhỏ, gọn, chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đích nào đó. Do vậy, thẻ sẽ được gắn với các tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để trở thành một loại cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ… + Dưới góc độ phát hành: Thẻ là phương tiện do Ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. + Theo thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các iều kiện và iều Khoản được các bên thỏa thuận.
(Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng) + Theo quy định của NHNN Việt Nam: Thẻ Ngân hàng là phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể được rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các Ngân hàng đại lý; hoặc: Thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ tại các điểm chấp nhận. 8 (Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Ngân hàng ban hành theo Quyết định 371/1999/QD-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Như vậy, xuất phát từ thực tiễn qua quá trình phát triển các chức năng sử dụng các loại thẻ hiện nay, dựa trên sự phát triển của công nghệ thì mục đích sử dụng của thẻ không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể như khi mới hình thành nữa. Với một tấm thẻ, người dùng không chỉ sử dụng để thanh toán tại VCNT để mua hàng hóa dịch vụ, cũng không chỉ dùng để rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê tài khoản của mình tại Ngân hàng, giao dịch mua bán qua mạng lưới nternet, trả cước phí dịch vụ công cộng; mà chủ thẻ còn có thể vừa sử dụng bằng tiền gửi của mình tại Ngân hàng, vừa sử dụng tiền vay nếu được Ngân hàng chấp nhận… Do đó, từ sự kết hợp giữa nội dung, mục đích, tác dụng… của các loại thẻ qua thực tiễn phát sinh, có thể hiểu: Thẻ chính là chìa khóa đa năng để chủ thẻ kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình. Đặc điểm Thẻ là một công cụ thanh toán có những đặc điểm khác hẳn so với các công cụ thanh toán khác.
Trong điều kiện ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển ở trình độ cao thì thanh toán bằng thẻ là phương thức thanh toán phổ biến thay thế cho các phương tiện thanh toán truyền thống. Bởi lẽ, thẻ có rất nhiều đặc tính vượt trội, như: + Tính linh hoạt: thẻ được sánh ví như “ví tiền điện tử” an toàn, tiện dụng, nhanh chóng và vô cùng hiện đại. + Tính thuận tiện: với kích thước nhỏ gọn trong lòng bàn tay nhưng lại có sức chứa đựng hàm lượng thanh khoản lớn hoặc di chuyển xa, chủ thẻ có thể sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mà không phải mang theo tiền mặt hay sec du lịch. Hay với thẻ tín dụng, chủ thẻ có thể thực hiện các giao dịch trước, sau đó thanh toán mà không bị tính lãi trong thời hạn được cấp… + Tính nhanh chóng: thẻ được chế tạo tinh tế dựa trên kỹ thuật hết sức tinh vi, hiện đại và khó làm giả; vì vậy độ an toàn của thẻ được đảm bảo.
ồng thời, trước những phát triển vượt trội của mạng lưới internet và các tiện ích chuyên biệt của thẻ, chủ thẻ có thể an tâm về tốc độ mau chóng chính xác khi sử dụng thẻ. 9 + Tính bảo mật: khác với tiền mặt là công cụ trực tiếp, trung gian để trao đổi hàng hóa, dịch vụ thì thẻ ngân hàng chỉ như là phương tiện gián tiếp để sử dụng tiền. Hay nói rõ hơn là khi dùng tiền mặt chúng ta có thể trực tiếp đem ra trao đổi còn thẻ thì phải trải qua các bước bảo mật của ngân hàng. iều này không những giảm thiểu khả năng bị trộm cướp mà còn giúp chúng ta dễ dàng truy xuất lại các nguồn tiền.
Từ đây, chúng ta có thể kết luận rằng với những đặc điểm như trên thì thẻ thanh toán sẽ dần thay thế tiền mặt trở thành một công cụ thanh toán chính trong tương lai. Qua đó, một lần nữa khẳng định lại tầm quan trọng của thẻ thanh toán không những trong ngành ngân hàng mà còn là trong cuộc sống thường ngày của chúng ta 1. Phân loại Tùy vào nhu cầu của người sử dụng mà mỗi loại thẻ sẽ có những tiện ích khác nhau. Chúng ta có thể sử dụng thẻ để rút tiền, nạp tiền, chuyển khoản tại máy T ; sử dụng thẻ để mua sắm, thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ… Từ đó, thẻ cũng được phân loại với nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ như: Thẻ T , Thẻ tín dụng, Thẻ thanh toán… Xuất phát từ chính nhu cầu của con người nên chiếc thẻ đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ đời sống con người.