CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC QUA NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá, hay phí thông qua dịch vụ đó. Trong xu hướng phát triển ngân hàng hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau.
Sản phẩm của ngân hàng có tính phi vật chất, và nó chỉ thực sự bắt đầu khi khách hàng tìm đến với ngân hàng và đưa ra một yêu cầu cụ thể, đơn giản như một ủy nhiệm chi, nhu cầu xin vay vốn, mua một chứng chỉ tiền gửi hay mua bán một loại ngoại tệ nào đó chẳng hạn. Như vậy, tính chất bị động và phụ thuộc vào khách hàng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng là vô cùng lớn. Điều này dẫn tới hoạt động của ngân hàng phải thực sự đa dạng và nhạy cảm, đồng thời việc xác định rõ chất lượng và lợi ích để tạo ra sự khác biệt trong cung ứng và phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng theo mô hình “hướng tới khách hàng” (customer oriented) là hết sức khó khăn. Do đó, để phát triển hoạt động của mình trên thị trường, ngân hàng phải thường xuyên ứng phó với biến động về nhu cầu của khách hàng, chủ động tìm đến và cùng với khách hàng thiết lập, phát triển và hoàn thiện quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng của mình theo một chu trình tuần hoàn mà theo đó, khách hàng là một mắt xích vô cùng quan trọng.
Dưới giác độ khách hàng, ngân hàng được nhìn nhận đơn thuần như Luan van 8 một tổ chức cung ứng dịch vụ. Điều đó có nghĩa là, nếu khách hàng không thấy được những tiện ích và độ thỏa dụng mà dịch vụ của một ngân hàng mang lại, họ sẽ dễ dàng tìm đến với ngân hàng khác, thậm chí một tổ chức tài chính phi ngân hàng khác nếu như chất lượng dịch vụ nơi đó tốt hơn và tiết kiệm thời gian hơn cho khách hàng, đặc biệt là trong các điều kiện cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính ngày càng gay gắt như hiện nay. Giờ đây, nếu ngân hàng nào không phản ứng kịp với nhu cầu của khách hàng và không cải tiến các sản phẩm mới sẽ thất bại trong kinh doanh. Cũng như các loại hình dịch vụ khác, để một dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đến tay khách hàng cần thiết phải có một thực thể gọi là “hệ thống dịch vụ thanh toán ngân hàng”.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống này bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng, giao dịch viên, các sản phẩm dịch vụ và hệ thống tổ chức nội bộ của ngân hàng đó; và được biểu diễn dạng hình dưới đây: Hệ thống tổ chức nội bộ Cơ sở vật chất Khách hàng Giao dịch viên Dịch vụ thanh toán Hình 1.1: Các yếu tố của hệ thống dịch vụ thanh toán ngân hàng 1. Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng a. Khái niệm Thanh toán qua ngân hàng là các giao dịch thanh toán giữa người trả và người hưởng qua ngân hàng, trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán. Trong trường hợp này, các ngân hàng là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Thống đốc NHNN quy định các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bao gồm: Luan van 9 - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Các Ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác; - Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; - Các tổ chức tín dụng không phải là Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán. - Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán (Kho bạc Nhà nước. Phân loại dịch vụ thanh toán qua ngân hàng v Phân loại theo phạm vi - Dịch vụ thanh toán quốc tế: dịch vụ mà giao dịch thanh toán thuộc một trong các trường hợp sau: giao dịch thanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc giao dịch thanh toán được xác lập hoặc thực hiện hoặc kết thúc ở nước ngoài; giao dịch thanh toán có doanh nghiệp chế xuất tham gia. - Dịch vụ thanh toán trong nước (TTTN): dịch vụ mà giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc có doanh nghiệp chế xuất tham gia.
v Phân loại theo mối quan hệ với phương thức chi trả - Thanh toán dùng tiền mặt là khách hàng dùng tiền mặt để chuyển tiền cho người hưởng và người hưởng nhận bằng tiền mặt từ ngân hàng. - Thanh toán không dùng tiền mặt là tất cả các hình thức trả tiền qua tài khoản ngân hàng, thực hiện bằng cách bù trừ công nợ hoặc chuyển khoản. Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng là việc người trả yêu cầu ngân hàng ghi Nợ tài khoản của mình và ghi Có cho tài khoản người nhận. Luan van 10 - Thanh toán hỗn hợp là một dạng thanh toán kết hợp của hình thức thanh toán dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt được thanh toán qua ngân hàng.
Trong đó khách hàng có thể chuyển tiền từ tài khoản của mình cho người thụ hưởng nhận bằng tiền mặt và ngược lại. Tác dụng của thanh toán qua ngân hàng - Đối với nền kinh tế Thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, dịch vụ TTTN qua ngân hàng làm tăng quá trình chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế thêm hiệu quả, làm tăng luân chuyển tiền tệ trong không gian và thời gian. Từ đó các “khối tiền tệ” bất động trở nên sống động hơn, di chuyển từ nơi này đến nơi khác, từ khách hàng này sang khách hàng khác, đáp ứng các nhu cầu cho hoạt động kinh tế – xã hội. Góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Dịch vụ TTTN qua ngân hàng góp phần tích cực mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế, cho khách hàng và ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và chuyên môn hoá của từng loại dịch vụ: giảm chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như tiết kiệm nhân lực để thực hiện giảm chi phí dịch vụ, giúp khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm dịch vụ. Dịch vụ TTTN qua ngân hàng góp phần chống tham nhũng, gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế. Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ TTTN qua ngân hàng trên nền tảng công nghệ tiên tiến, hiện đại giúp người dân làm quen và không còn cảm thấy xa lạ với những khái niệm ngân hàng tự động, ngân hàng không người, ngân hàng ảo. Luan van 11 - Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Dịch vụ TTTN qua ngân hàng đem lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn về phí dịch vụ.
Phát triển dịch vụ TTTN qua ngân hàng đa dạng, nhiều tiện ích theo hướng cải tiến phương thức thanh toán, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt động. Bên cạnh đó ngân hàng có thể phát triển những dịch vụ hổ trợ như dịch vụ chi trả lương cho những người có tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau, từ đó làm tăng nguồn thu dịch vụ của ngân hàng. Bằng các dịch vụ TTTN qua ngân hàng, NHTM tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán của khách hàng đang lưu ký trên tài khoản thanh toán, ký quỹ. Những tài khoản này ngân hàng không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp làm cho chi phí đầu vào của nguồn vốn huy động giảm xuống, tạo ra chênh lệch lớn giữa lãi suất bình quân cho vay so với lãi suất bình quân tiền gửi.
Việc thanh toán qua ngân hàng không chỉ có lợi cho khách hàng mà còn cho cả ngân hàng trong việc tập trung nguồn vốn nhàn rỗi để mở rộng cho vay và đầu tư. Khi các NHTM xây dựng được mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp sẽ làm nền tảng để phát triển các dịch vụ TTTN qua ngân hàng. NHTM tăng khả năng hoạt động đáp ứng các nhu cầu khách hàng, từ đó tăng dần khả năng thích ứng, cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, thanh toán qua Ngân hàng giúp khách hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn kinh doanh, đảm bảo quá trình sản xuất và kinh doanh được liên tục, nhằm hạn chế những thiệt hại, khắc phục và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị.
- Đối với khách hàng Đối với các khách hàng dịch vụ TTTN qua ngân hàng tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy Luan van 12 đồng vốn luân chuyển nhanh, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hóa. Thanh toán qua ngân hàng đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng, tốc độ thanh toán nhanh và tiết kiệm chi phí lưu thông, thanh toán qua ngân hàng giúp các khách hàng thuận tiện trong giao dịch và có phạm vi thanh toán rộng. Khách hàng cũng được hưởng lãi từ số dư trên tài khoản tại ngân hàng. Các dịch vụ thanh toán trong nước qua ngân hàng Theo văn bản pháp lý Việt Nam hiện hành ngân hàng cung ứng các hình thức TTTN qua ngân hàng như sau: - Thanh toán bằng Séc - Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi hoặc Lệnh chi - Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu hoặc Nhờ thu - Thanh toán bằng Thư tín dụng trong nước - Thanh toán bằng Thẻ ngân hàng - Thanh toán khác v Thanh toán bằng Séc "Séc" là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng.
Dịch vụ thanh toán séc của một tổ chức cung ứng séc là dịch vụ thanh toán ngay séc cho khách hàng khi tờ séc đó được xuất trình và do tổ chức cung ứng séc đó ký phát.