CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC QUA NGÂN HÀNG 1. DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG 1. Dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế của quốc gia. Nhận ra tầm quan trọng của dịch vụ, các nhà nghiên cứu hàn lâm trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực này từ đầu thập niên 1980.
Tuy nhiên, do dịch vụ có nhiều tính chất phức tạp nên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh về dịch vụ. Khái niệm về dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng được hiểu như sau: Đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong nuốm nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất giữ tài sản,.
và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng. 8 Theo Luật Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, không nêu dịch vụ ngân hàng mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - (GATS): “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm: Mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”. Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng. Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, trong đó phổ biến là thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong trường hợp này, ngân hàng là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các 9 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bao gồm: - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước); - Các ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác; - Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; - Các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép là dịch vụ thanh toán; - Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ thanh toán (Kho bạc Nhà nước,. Dịch vụ thanh toán trong nước qua ngân hàng Khi cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian tổ chức thực hiện thanh toán thay cho khách hàng của mình. Căn cứ vào phạm vi thực hiện, dịch vụ thanh toán bao gồm dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế.
Dịch vụ thanh toán trong nước là dịch vụ mà giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc có doanh nghiệp chế xuất tham gia. Phân loại dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Phân loại theo phạm vi Các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp bao gồm Dịch vụ thanh toán trong nước và Dịch vụ thanh toán quốc tế. Dịch vụ thanh toán quốc tế: Dịch vụ thanh toán quốc tế là dịch vụ mà giao dịch thanh toán thuộc một trong các trường hợp sau: Giao dịch thanh 10 toán được xác lập hoặc thực hiện hoặc kết thúc ở nước ngoài; hoặc giao dịch thanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài; Giao dịch thanh toán có doanh nghiệp chế xuất tham gia. Dịch vụ thanh toán trong nước: dịch vụ và giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam trừ trường hợp có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài hoặc có doanh nghiệp chế xuất tham gia (định nghĩa này được trích từ điều 11 của Quyết định 226/2002/QĐ- NHNN ngày 22/03/2002).
Phân loại theo hình thức Để đáp ứng những nhu cầu đa dạng về cách thức thanh toán của khách hàng mà việc thanh toán qua ngân hàng có thể bao gồm cả 3 dạng: - Thanh toán dùng tiền mặt là việc một khách hàng dùng tiền mặt để chuyển tiền cho người hưởng và người hưởng nhận bằng tiền mặt từ ngân hàng. - Thanh toán không dùng tiền mặt là tất cả các hình thức trả tiền qua tài khoản ngân hàng, thực hiện bằng các cách chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ. - Thanh toán hỗn hợp là một dạng thanh toán kết hợp của 2 hình thức trên. Trong đó, khách hàng có thể chuyển tiền từ tài khoản của mình cho người thụ hưởng nhận bằng tiền mặt và ngược lại.
Đặc điểm của thanh toán qua ngân hàng Thanh toán qua ngân hàng có các đặc điểm sau: - Sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tư hàng hóa cả về thời gian và không gian, thông thường sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của vật tư hàng hóa là không có sự ăn khớp với nhau. - Thanh toán qua ngân hàng chủ yếu là thanh toán không dùng tiền mặt. Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vật môi giới (tiền mặt) chỉ xuất hiện dưới hình thức kế toán (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các chứng từ, sổ kế 11 toán (gọi là tiền chuyển khoản). Với đặc điểm này thì mỗi bên tham gia thanh toán (chủ yếu là người mua) buộc phải mở tài khoản tại ngân hàng và phải có tiền trên tài khoản đó, bởi vì nếu không như vậy thì việc thanh toán sẽ không thực hiện được.
- Trong thanh toán qua ngân hàng, vai trò của ngân hàng là rất to lớn - vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán. Ngân hàng được xem như là người thứ ba không thể thiếu được trong thanh toán chuyển khoản. Bởi vì chỉ có ngân hàng – người quản lý tài khoản tiền gửi của các đơn vị mới được phép trích chuyển tiền trên tài khoản của các đơn vị, cá nhân. Với đặc điểm này thì NHTW và NHTM đều có vai trò rất to lớn trong việc phát triển hệ thống thanh toán của một quốc gia.
Vai trò của dịch vụ thanh toán qua ngân hàng a. Đối với nền kinh tế Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì việc thanh toán qua ngân hàng có vị trí vô cùng quan trọng và là một phần không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế. Điều đó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của thanh toán qua ngân hàng trong nền kinh tế. Vai trò này được thể hiện trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, thanh toán qua ngân hàng thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nó được coi là khâu đầu tiên và cũng là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất và liên quan đến toàn bộ lĩnh vực lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thứ hai, thanh toán qua ngân hàng giúp cho ngân hàng huy động được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành đầu tư, cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế. Để tham gia công tác thanh toán qua ngân hàng, các đơn vị, cá nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, trên mỗi tài khoản tiền gửi đó có lãi suất lại thấp, hơn nữa việc tiến 12 hành thanh toán chi trả không phải là thường xuyên. Do đó, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để thu lợi nhuận.
Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế. Thứ ba, trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, thanh toán qua ngân hàng góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội. Mặt khác, thanh toán qua ngân hàng còn tạo ra sự chuyển hoá thông suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản. Cả hai khía cạnh đó đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền tệ.
Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm hai bộ phận cấu thành đó là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.