phần mở đầu, TTQT đóng vai trò vô cùng quan trọng với nền kinh tế mỗi quốc gia, là cầu nối kinh tế trong nước và kinh tế thế giới góp phần thúc đẩy, phát triển vị thế của quốc gia trong thương trường. Cụ thể, thanh toán quốc tế có vai trò: - Bôi trơn và thúc đẩy xuất nhập khẩu của nền kinh tế như một tổng thể. - Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. - Thúc đẩy và mở rộng dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế.
- Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác. - Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Ngoài việc đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế quốc gia và hoạt động của các doanh nghiệp XNK, TTQT còn là một phần không thể thiếu trong hoạt động của các NHTM. TTQT còn là hoạt động bổ sung, hỗ trợ cho các hoạt động khác của NHTM như: huy động vốn ngoại tế, đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ XNK, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương.
Cụ thể, TTQT có vai trò: 7 - Tạo điều kiện thu hút khác hàng, mở rộng thị phần, tăng cường bán chép sản phẩm tăng thu nhập cho ngân hàng thương mại. - Tăng cường quan hệ đối ngoại của ngân hàng thương mại. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Hoạt động thanh toán XNK không chỉ có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế đối ngoại của các quốc gia nói chung mà hoạt động này còn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh XNK. - Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho quá trình buôn bán an toán, tiện lợi, nhanh chóng hơn, từ đó đẩy mạnh hoạt động XNK của các doanh nghiệp.
- Hoạt động thanh toán quốc tế giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu tạo niềm tin và uy tín với đối tác. Nhìn chung, đối với các doanh nghiệp XNK, thông qua TTQT ngân hàng là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động XNK, đồng thời tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh XNK. Các công cụ thanh toán quốc tế 1. Hối phiếu “Hối phiếu là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.” [Luật các công cụ chuyển nhượng Việt Nam (2005)] Theo đó, hối phiếu được hiểu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.
8 Hối phiếu mang tính trừu tượng hay tính độc lập của khoản nợ ghi trên hối phiếu. Hối phiếu được lập ra không dựa trên cơ sở của hợp đồng thương mại hay thỏa thuận mua bán. Người bị ký phát trả tiền theo hối phiếu bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà không được viện bất cứ lý do gì. Kỳ phiếu “Kỳ phiếu là một cam kết trả tiền vô điều kiện do một người phát hành hứa trả một số tiền nhất định cho một người khác, hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm phiếu.262] Một kỳ phiếu bao gồm các đặc điểm chính sau: - Kỳ hạn của kỳ phiếu được ghi rõ trên kỳ phiếu.
- Kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người cùng ký phát. - Kỳ phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hay công ty tài chính để đảm bảo khả năng thanh toán của nó. - Kỳ phiếu chỉ có một bản do chính con nợ phát hành để chuyển cho ngưới hưởng lợi kỳ phiếu đó. Séc “Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người (chủ tài khoản), ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người được chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc trả cho người cầm séc.265] Đặc điểm của séc: - Séc được làm bằng văn bản, có một hình mẫu nhất định.
- Séc mang tính chất thời hạn và chỉ có giá trị thanh toán trong thời gian hiệu lực của nó (được ghi rõ trên tờ séc). - Khác với hối phiếu, khi thành lập không cần có tiền bảo chứng còn séc về nguyên tắc phải có tiền bảo chứng khi phát hành. 9 - Séc không phải là một công cụ tín dụng bởi vì séc không có thời hạn tín dụng. Các loại séc thông dụng: séc đích danh, séc vô danh, séc theo lệnh, séc gạch chéo, séc du lịch, séc bảo chi.
Các phương thức thanh toán quốc tế Trong thanh toán quốc tế có nhiều phương thức khác nhau cũng như sử dụng nhiều công cụ thanh toán khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi nhà XNK và thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên trong luận văn xin giới thiệu một số phương thức thông dụng trong hoạt động ngoại thương. Phương thức chuyển tiền “Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định.273] Nhìn chung, chuyển tiền là phương thức đơn giản, trong đó, người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán với nhau. Khi thực hiện chuyển tiền, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hướng phí và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người hưởng thụ. Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do đó dùng phương thức này quyền lợi của người bán không được đảm bảo.
Do đó, phương thức này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế, nó chỉ được dùng trong thanh toán phi mậu dịch cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa: cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường… 1. Phương thức thanh toán nhờ thu “Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình 10 bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.296] Nhờ thu được chia thành nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ: - Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng. - Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu gồm: hoặc chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính hoặc chỉ chứng từ thương mại (không có chứng từ tài chính). NHTH chỉ trao bộ chứng từ cho Người trả tiền khi người này đã trả tiền, chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác quy định trong Lệnh nhờ thu.
Phương thức tín dụng chứng từ Với các phương thức đã nêu ra, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu đều gặp phải rủi ro như việc thanh toán không gắn liền với hợp đồng kinh tế, người nhập khẩu không nhận được hàng theo yêu cầu nhưng vẫn phải thanh toán, người xuất khẩu đã giao hàng nhưng không được trả tiền…Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ gần như khắc phục được hoàn toàn những nhược điểm của các phương thức trên. “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.335] Qua quy trình nghiệp vụ (phụ lục 1) cho thấy thanh toán bằng phương pháp tín dụng chứng từ đem lại nhiều lợi ích: - Nhà xuất khẩu được NHPH bảo đảm thanh toán chắc chắn nếu xuất trình bộ chứng từ xuất khẩu phù hợp. 11 - Sau khi bộ chứng từ xuất khẩu được chấp nhận, việc thanh toán cho nhà XK được thực hiện nhanh chóng, đầy đủ, đúng hạn. - Nhà XK có thể đề nghị chiết khấu L/C đề có tiền trước chuẩn bị cho việc thực hiện hợp đồng.
- Nhà nhập khẩu được NHPH bảo đảm không phải trả tiền chừng nào chưa nhận được bộ chứng từ nhập khẩu phù hợp. - Ngoài lợi ích cho khách hàng, phương thức tín dụng chứng từ còn đem lại cho ngân hàng khoản phí đáng kể, lợi ích từ việc chiếm dụng vốn tạm thời của khách hàng, cơ hội phát triển các dịch vụ khác mang lại lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh. Cơ cở pháp lý điều chỉnh dịch vụ thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia. Do đó, để tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt dộng thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra.
Ngoài luật pháp quốc gia còn có các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành như: Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP): UCP đã qua bẩy lần sửa đổi và chỉnh lý, đến ngày 01.2007, ICC đã cho ra đời UCP 600 có 39 điều khoản, điều chỉnh tất cả các mối quan hệ của các bên tham gia nghiệp vụ thanh toán L/C, trách nhiệm và nghĩa vụ bên tham gia trong thanh toán L/C, quy định các thức lập và kiểm tra chứng từ xuất trình theo L/C. Quy tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại (URC): URC522 gồm 7 khoản mục và 26 điều, quy định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan, thủ tục nhờ thu, chi phí nhờ thu, chứng từ nhờ thu. Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng từ (URR): URR 525 được ICC xuất bản vào tháng 11/1995 và có hiệu lực áp dụng vào ngày 12 01/07/1996. Vào lúc đó, các ủy quyền hoàn trả đã bắt đầu được phát hành bằng các đồng tiền khác với đồng tiền đã được sử dụng phổ biến là đô la Mỹ, do vậy, sự ra đời của một bộ các quy tắc quốc tế được xem là cần thiết.