CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Để làm rõ khái niệm dịch vụ phi tín dụng trước hết cần xác định rõ khái niệm dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng thương mại nói riêng. Khác với hàng hoá thông thường, dịch vụ là hàng hoá vô hình, việc cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng một lúc và quá trình cung cấp dịch vụ chỉ bắt đầu khi khách hàng có nhu cầu.
Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà người tiêu dùng dịch vụ nhận được. Như vậy dịch vụ có các đặc tính sau: · Tính đồng thời, không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không thể tách rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; · Tính chất không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất; · Vô hình: không có hình hài rõ rệt.
Không thể thấy trước khi tiêu dùng; · Không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được. Toàn thể những nhà cung cấp dịch vụ hợp thành khu vực thứ ba của nền kinh tế. Có nhiều ngành dịch vụ như thương mại, du lịch, khách sạn, tài chính, ngân hàng…Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng thương mại được hiểu là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng có thể tạo ra nhằm cung cấp làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về dịch vụ tiền tệ, tài chính, góp phần trực Luan van 8 tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu nhập của ngân hàng.
Với định nghĩa trên có thể hiểu tất cả các hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng đều là dịch vụ. Dựa vào tính chất tín dụng, các dịch vụ của ngân hàng thương mại được phân thành hai loại: dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng. + Dịch vụ tín dụng: gồm những dịch vụ liên quan đến mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể liên quan đến việc cấp và thu hồi tín dụng. Bao gồm nghiệp vụ cho vay, thấu chi, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính… + Dịch vụ phi tín dụng: là các dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng mà không phải là dịch vụ tín dụng.
Hay dịch vụ phi tín dụng là loại dịch vụ mà khi được ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng thì không làm phát sinh việc cấp và thu hồi vốn (tiền mặt hoặc tài sản) đối với khách hàng. Các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại mang lại nguồn thu nhập từ các khoản phí, hoa hồng, chênh lệch giá hoặc chỉ nâng cao uy tín của ngân hàng. Từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 của Thomas P. Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng (non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp.
Theo Tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một Luan van 9 khoản thu nhập nhất định, không bao gồm các dịch vụ tín dụng [10, tr.33] Qua những phân tích trên, chúng ta có thể nêu một khái niệm về sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM như sau: “Dịch vụ phi tín dụng (viết tắt là DVPTD) đối với khách hàng doanh nghiệp là các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp và mang lại nguồn thu cho ngân hàng ngoài nguồn thu từ dịch vụ tín dụng thể hiện qua các tài khoản phí như dịch vụ tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh thu phí, dịch vụ tư vấn, dịch vụ ủy thác, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ…” 1. Đặc điểm DVPTD đối với khách hàng doanh nghiệp thõa mãn các đặc điểm sau: - Không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến việc cấp và thu hồi tín dụng. Đây là điểm dễ phân biệt rõ nhất DVPTD và DVTD.
Xét về mặt nghiệp vụ thì khi DVPTD được ngân hàng cung cấp tới khách hàng thì không làm phát sinh khoản mục cho vay trong phần tài sản của bảng tổng kết tài sản của ngân hàng. Hay nói cách khác, đó là dịch vụ không làm phát sinh việc ngân hàng phải bỏ ra một khoản tiền thực để nhận lại khoản tiền đó sau một khoảng thời gian. Như vậy, với hoạt động bảo lãnh, khi ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh cho khách hàng, đó là dịch vụ phi tín dụng. Nhưng khi khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dẫn đến việc ngân hàng phải bỏ tiền thực để thực hiện cam kết với bên thứ ba thì khi đó nó trở thành dịch vụ tín dụng.
- Là dịch vụ phi tín dụng được khách hàng doanh nghiệp trực tiếp sử dụng. So với khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng chiểm tỷ trọng nhỏ hơn về số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn hơn về doanh số giao dịch cũng như giá trị giao dịch. - Thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng cạnh tranh thông qua việc thu phí, chênh lệch giá, hoa hồng… Do NHTM bị chi phối bởi đặc điểm dùng nguyên liệu chính là ‘tiền”, loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính Luan van 10 nhạy cảm cao nên chỉ cần sự thay đổi nhỏ trong cung ứng dịch vụ cũng sẽ gây ra sự chuyển dịch của khách hàng từ NHTM này sang NHTM khác. Tính nhạy cảm cao thể hiện rõ trong trường hợp khi NHTM này tạo ra một loại sản phẩm được xã hội ưa chuộng thì ngay lập tức các NHTM khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh.
Như vậy, tính cạnh tranh quyết liệt giữa các NHTM phát sinh từ sự dễ thay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch với NHTM nhằm mục đích mua sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất mà thoả mãn được nhu cầu cao nhất. - Các dịch vụ phi tín dụng của các NHTM có tính hỗ trợ cao và liên kết chặt chẽ với nhau, sự tồn tại và phát triển dịch vụ này gắn liền với các dịch vụ khác, do đó việc phát triển dịch vụ phi tín dụng của NHTM đòi hỏi sự phát triển đồng bộ và toàn diện. - Phụ thuộc vào môi trường kinh doanh và công nghệ bởi: + NHTM nằm trong số loại hình doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ nhất, buộc phải quản lý theo pháp luật và các qui định khác có liên quan. Hoạt động kinh doanh của NHTM thường xuyên đổi mới với những điều kiện kinh tế năng động và những điều chỉnh của pháp luật.
Mặt khác, mối quan hệ giữa NHTM và khách hàng là mối quan hệ dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau và tạo thuận lợi cho nhau, do vậy môi trường kinh doanh (điều kiện kinh tế và luật pháp) của mỗi nước đều ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ của NHTM. + Dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ ngân hàng có những bước tiến nhảy vọt và có khuynh hướng quốc tế hoá, trở thành nguồn lực nội tại của mỗi NHTM về tư duy kinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trường. Do vậy, hoạt động của NHTM không thể tách rời với công nghệ ngân hàng. Các dịch vụ phi tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM hiện đại a.
Các dịch vụ phi tín dụng truyền thống * Dịch vụ thanh toán Khi cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian tổ chức thực hiện thanh toán thay cho khách hàng của mình. Căn cứ vào phạm vi thực hiện, dịch vụ thanh toán bao gồm: Dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế. + Dịch vụ thanh toán trong nước: Bao gồm thanh toán giữa các doanh nghiệp qua ngân hàng và thanh toán giữa các ngân hàng. Thanh toán giữa các doanh nghiệp qua ngân hàng là việc thanh toán bằng cách trích tiền từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng thông qua nghiệp vụ thanh toán của các ngân hàng.
Có rất nhiều phương thức thanh toán qua hệ thống ngân hàng như: Thanh toán bằng ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển khoản thanh toán tự động định kỳ… Thanh toán giữa các ngân hàng xảy ra khi bên chi trả và bên thụ hưởng không có tài khoản ở cùng ngân hàng nên phải thông qua việc thanh toán giữa các ngân hàng với nhau. Cách thức thực hiện việc thanh toán giữa các NHTM bao gồm: Thanh toán qua NHNN, thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng. Thanh toán thu/chi hộ giữa các ngân hàng. Nhờ có dịch vụ này mà NHTM tập trung ngày càng nhiều các khoản vốn tiền tệ trong nền kinh tế, làm tăng thêm nguồn vốn tín dụng để đầu tư vào quá trình tái sản xuất mở rộng.
+ Dịch vụ thanh toán quốc tế Với mạng lưới đại lý rộng khắp, với nền tảng công nghệ hiện đại, các ngân hàng là một tổ chức trung gian thanh toán cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, thực hiện chuyển tiền nhanh từ quốc gia này đến quốc gia khác. Các giao dịch thanh toán quốc tế thường được thực hiện thông qua các phương thức Luan van 12 chủ yếu như tín dụng chứng từ (L/C), nhờ thu, chuyển tiền. * Dịch vụ ngân quỹ: đây là dịch vụ mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. Ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý dịch vụ thu chi tiền mặt cho khách hàng.
Việc thu chi tiền mặt có thể được thực hiện tại quầy của ngân hàng hoặc tại địa điểm mà khách hàng yêu cầu (thu chi hộ). Dịch vụ này giúp khách hàng không phải tốn nhiều thời gian và công sức trong việc thu chi tiền, được ngân hàng đảm bảo tính an toàn và hưởng lãi.