CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNGMẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Dịch vụ Để đưa ra một định nghĩa thống nhất về dịch vụ được chấp thuận chung giữa các quốc gia trên thế giới cho đến nay vẫn là một điều còn được bỏ ngỏ. Bởi vì tính chất phức tạp, đa dạng của nó mà mỗi tổ chức khác nhau lại có cách định nghĩa khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2010), dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng dưới dạng phi vật thể.Dịch vụ được ví như sản phẩm mà lại không giống như những sản phẩm vật chất thông thường, có những sản phẩm nghiêng về hữu hình và có cả những sản phẩm nghiêng về vô hình. Với cách hiểu chung chung như vậy, việc đánh giá chất lượng cũng như quản lí dịch vụ trở nên khó khăn và thiếu chuẩn mực. Philip Kotler (1997) định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vậtchất”.Trong ISO 8402, dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Như vậy, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Ta cũng có thể hiểu, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vậtchất. Dịch vụ của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại Khái niệm về dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng được hiểu như sau: “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” của tác giả David Cox cho chúng ta thấy quan niệm của Vương Quốc Anh là hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của NHTM đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Như vậy, đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tàichính. “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S.
Rose (2010) cho rằng “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Và được giải thích “Mọi ngân hàng hoạt động với 3 hoạt động cơ bản là huy động vốn; hoạtđộngsửdụngvốn;Cáchoạtđộngkhácnhưthanhtoán,ngânquỹ.” Theo Luật các tổ chức tín dụng VN (2010)có quy định dịch vụ ngân hàng nhưngkhôngnêurađịnhnghĩamàđưaracụmtừ“Hoạtđộngkinhdoanhtiềntệvàdịchvụ ngânhàng” được bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịchvụ thanh toán; tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo Chương 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt độngkhác. Từ những khái niệm, chúng ta có thể hiểu: dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các 10 ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng.
Đặc điểm củadịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của dịch vụ. Cụ thể như sau: Một là, dịch vụ là các sản phẩm vô hình nên khó xác định Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất hay vậtphẩmcụthể,chínhvìvậycáccôngtáclượnghóa,thốngkê,đánhgiáchấtlượng và quy mô cung cấp dịch vụ trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với hàng hóa. Bên cạnh đó, vì không tồn tại dưới dạng vật thể nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ. Bởi vậy, trong quan hệ mua - bán dịch vụ sẽ không có việc chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ từ người bán sang người mua như quan hệ mua bán hàng hóa.
Chủ thể của quan hệ dịch vụ có một số khác biệt so với trong quan hệ hànghóa.Đó là trong quan hệ dịch vụ, chủ thể không quan tâm đến lợi ích sở hữu dịch vụ, không định đoạt dịch vụ mà chỉ quan tâm tới quyền sử dụng và chất lượng dịch vụ. Hai là, dịch vụ có tính không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa. Các chủ thể tham gia quan hệ mua bán thỏa thuận với nhau để thực hiện một công việc nào đó, ví dụ như sửa chữa điện thoại, nhà cửa… Bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo thỏa thuận và nhận tiền công. Thước đo để đánh giá chất lượng của công việc phụ thuộc vào mức độ “hài lòng“ của bên yêu cầu dịch vụ và quá trình thực hiện công việc của bên cung ứng dịch vụ.
Bởi vậy, chất lượng dịchvụ dao động trong một khoảng rất rộng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ và do đó có tính không đồng nhất và khó tiêu chuẩn hóa. Ba là, dịch vụ có tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng. Xétdướigócđộkinhtế,tínhkhôngtáchrờiđượchiểulàviệcsảnxuất,cung ứng, lưu thông, tiêu dùng dịch vụ là một quá trình liên hoàn, không có độ trễ về mặt thời gian giữa các công đoạn, hay nói cách khác, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Ví dụ, trong dịch vụ tư vấn pháp luật,khichuyên gia cung cấp dịch vụ tư vấn thì đồng thời người sử dụng cũng tiếp nhận vàtiêu dùng 11 xong dịch vụ tư vấn đó.
Với đặc trưng này, dịch vụ khác hàng hóa ở chỗ sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng nên khi đượcsản xuất ra, hàng hóa có thể được lưu kho bãi và không nhất thiết phải tham gia ngay vào quá trình lưu thông, tiêu dùng.Sau quá trình tiêu dùng dịch vụ, các giá trị và giá trị sử dụng của dịch vụ được chuyển tải vào các giá trị vật chất khác, còn bản thân dịch vụ không tồntại. Bốn là, dịch vụ không thể cất trữ và lưu kho bãi. Do quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và cất trữ, lưu kho bãi sau đó mới tiêu dùng được. Vì vậy, dịch vụ là sản phẩm không lưu trữ được và không tồn tại khái niệm tồn kho hay dự trữ sản phẩm trong hoạt động cung ứng dịch vụ (Phan Thị Thu Hà, 2009).
Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng thương mại Từ điển thuật ngữ ngân hàng của nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 của Thomas P. Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng (non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính.
Ví dụ dịch vụ phi tín dụng bao gồm sự tin tưởng và các khoản thu liên quan đến đầu tư, quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nước ngoài. Theo Tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tíndụng. Theo Đào Lê Kiều Oanh, Phạm Anh Thủy (2012), dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính 12 mà không phải là những dịch vụ tín dụng.
Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Theo Phan Thị Linh (2015), dịch vụ phi tín dụng gắn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân nhằm thu được lợi nhuận, điển hình là dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý. Trong hoạt động dịch vụ truyền thống của NHTM thì dịch vụ phi tín dụng có thể phát sinh đồng thời với hoạt động của dịch vụ tín dụng (huy động vốn và cung cấp vốn) của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn.Bên cạnh đó, một số dịch vụ phi tín dụng hoạt động độc lập với hoạt động tíndụng. Để nhận biết dịch vụ ngân hàng nào là dịch vụ phi tín dụng có thể dựa vào các yếu tố như sau: (i) Dịch vụ phi tín dụng không yêu cầu khách hàng sử dụng đến nguồn vốn trong giao dịch; (ii) Khi khách hàng giao dịch với Ngân hàng thì khách hàng phải chi trả một khoản phí khi Ngân hàng thực hiện cung ứng các dịch vụ cho khách hàng.
Thu nhập của Ngân hàng lúc này được thực hiện dưới dạng thu phí chứ không phải thựchiệndướidạngthulãivàtrảlãi(lãisuất)nhưdịchvụtíndụng.