CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng số 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng số 1. Khái niệm ngân hàng số Có nhiều quan điểm khác nhau về Ngân hàng số (NHS - Digital banking) trên cơ sở được hiểu là mô hình ngân hàng dựa trên nền tảng số hoá, tích hợp tất cả các hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Theo Chris (2014), “NHS là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng, dữ liệu điện tử và công nghệ số, là giá trị cốt lõi của hoạt động ngân hàng”. NHS là một khái niệm rộng hơn nhiều so với khái niệm ngân hàng điện tử, là giai đoạn phát triển cao hơn của ngân hàng điện tử, hoạt động của ngân hàng điện tử là một phần của NHS. “NHS là đòi hỏi cao về công nghệ bao gồm sự đổi mới trong dịch vụ tài chính cho khách hàng xung quanh các chiến lược về ứng dụng kỹ thuật số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thanh toán, RegTech, dữ liệu lớn, blockchain, API, kênh phân phối và công nghệ” (American Banker, 2018). Theo Gaurav Sarma (2017), “NHS là một hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Nói cách khác, tất cả những gì khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng truyền thống được số hóa và tích hợp vào một ứng dụng ngân hàng số duy nhất và thông qua ứng dụng này khách hàng không cần phải đến chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, đồng thời các hoạt động của ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng… cũng được số hóa.” Theo Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Hà Thanh, Lê Thành Tuyên (2020), “NHS được hiểu là mô hình ngân hàng dựa trên nền tảng số hóa tích hợp tất cả các hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống, nhằm đảm bảo sự liền mạch trong mọi hoạt động của ngân hàng như: Chuyển khoản/giao dịch, kết nối và tư vấn cho khách hàng, đảm bảo tối đa tiện ích. Trong khi đó, ngân hàng và các nhà nghiên cứu đều khẳng định, NHS là ngân hàng có thể giúp khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng truyền thống bằng hình thức trực tuyến thông qua kết nối internet. 12 Tất cả các giao dịch ngân hàng sẽ gói gọn trên website hoặc thiết bị di động”. Như vây, có thể hiểu, “NHS là mô hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong kỷ nguyên số, ứng dụng nền tảng công nghệ mới nhất đối với tất cả các chức năng của ngân hàng và cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ số”.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng số Theo Philip Kotler: “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. “Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, gồm các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận”.
Đây là cách phân loại phổ biến ở các nước phát triển, phù hợp WTO và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa Kỳ. Theo quan điểm của tác giả cho rằng “Dịch vụ NHS là tất cả các dịch vụ do ngân hàng cung cấp mà người dùng có thể sử dụng thông qua internet, thiết bị di động và không phải đến trực tiếp văn phòng giao dịch của ngân hàng. Khách hàng thay vì thực hiện giao dịch theo cách truyền thống (giao dịch trực tiếp), khách hàng và ngân hàng có thể tương tác với nhau bằng các thiết bị điện tử như điện thoại thông minh, máy tính bảng và ứng dụng web Internet”. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng số NHS là sự kết hợp các ứng dụng công nghệ mới và phát triển, số hóa các hoạt động ngân hàng từ các kênh phân phối truyền thống và hiện đại đến các quy trình hoạt động, quy trình ra quyết định và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm cải tiến dịch vụ, trải nghiệm khách hàng một cách hiệu quả, nâng cao năng lực thích ứng, phù hợp với những thay đổi về môi trường kinh doanh bên trong cũng như bên ngoài ngân hàng, khẳng định vị thế và gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Khách hàng không phải đến chi nhánh hay phòng giao dịch ngân hàng, chỉ cần vài thao tác đơn giản trên các thiết bị thông minh trong vòng một đến hai phút là có thể thực hiện mọi giao dịch trực tuyến như: Thanh toán, Chuyển khoản/Chuyển tiền, Quản lý tài khoản, quản lý thẻ,… NHS ngày càng phát triển mạnh mẽ và mang những đặc điểm sau: 13 Giao dịch tiện lợi: Chỉ với thiết bị điện tử thông minh có kết nối Internet, khách hàng có thể thực hiện mọi giao dịch bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu (24/7). Trong thời điểm kết nối mạng không đây phổ biến khắp mọi nơi, người tiêu dùng hiện nay dễ dàng mua sắm tất cả các sản phẩm cần thiết một cách nhanh chóng chỉ với trang mạng điện tử, tự do lựa chọn sản phẩm mà mình mong muốn và sản phẩm sẽ được giao đến tận địa chỉ khách hàng. Với dịch vụ tài chính thì NHS đáp ứng được ưu điểm đó của công nghệ Internet khách hàng sẽ tự mình lựa chọn, giao dịch và hoạch toán với hệ thống máy tính của ngân hàng chỉ với thiết bị số trên tay mà không cần đến sự trợ giúp trực tiếp của nhân viên ngân hàng. Đa dạng các kênh kết nối với khách hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Ngân hàng phải có nền tảng công nghệ vững chắc để đảm bảo các dịch vụ ngân hàng được cung cấp một cách dễ dàng trên nhiều kênh khác nhau với chất lượng tương đồng, thông tin được xuyên xuốt giữa các kênh.
Ngân hàng số sẽ đẩy mạnh việc phát triển các kênh phân phối số, kết hợp các kênh phân phối số với kênh quầy và số hóa kênh quầy (như hệ thống tự phục vụ tại quầy…) nhằm đem lại trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng. Trên thị trường hiện nay, các đơn vị hàng đầu cung cấp giải pháp ngân hàng cốt lõi đã bổ sung các tính năng này cho giải pháp của họ dưới tên gọi Omni-Channel (đồng nhất các kênh) nhằm hỗ trợ ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ đa kênh và đồng nhất về trải nghiệm người dùng. Tự động hóa quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ, quy trình tác nghiệp ngân hàng: Các giải pháp công nghệ thông tin hiện nay cho phép các ngân hàng sử dụng các công nghệ tiên tiến như quản lý luồng công việc (Work Flow), quản lý quy trình kinh doanh (BPM - Business Process Management) trong việc xây dựng quy trình, điều chỉnh quy trình. Các ngân hàng trang bị các giải pháp hỗ trợ cho quá trình tự động hóa các quy trình tạo và cung cấp sản phẩm để kết hợp với kênh phân phối số, cung cấp các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao cho khách hàng.
Tiết kiệm thời gian, giảm thiểu chi phí: Với dịch vụ NHS, khách hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian khi không phải mất thời gian trực tiếp tới ngân hàng ngồi chờ tới lượt giao dịch, chỉ cần máy tính hoặc điện thoại có kết nối mạng là đã thực hiện được bất kỳ nhu cầu giao dịch của cá nhân. Đặc biệt với những người làm văn phòng, thời gian chủ yếu là giờ hành chính, việc ra ngân hàng giao dịch không tiện lợi về thời gian. Đặc biệt trong thời kỳ ảnh hưởng bởi dịch bệnh, việc giao dịch 14 trực tuyến thông qua các ứng dụng của ngân hàng số là vô cùng tiện lợi, tránh tình trạng tiếp xúc nơi đông người. Bảo mật dữ liệu an toàn: Quan trọng trong dịch vụ ngân hàng số là vấn đề an toàn và bảo mật.
Nó liên quan đến hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của ngân hàng. Ngân hàng số được các ngân hàng chú trọng đầu tư trên công nghệ tiên tiến và hiện đại nhất. Các dữ liệu luôn xây dựng với nhiều lớp bảo vệ, trong đó việc sử dụng mã xác thực dùng một lần (OTP) là cơ chế bảo mật luôn được chú trọng đổi mới liên tục với nhiều hình thức khác nhau nhằm tăng tính bảo mật đảm bảo thông dụng và tiện lợi nhất. Vai trò của dịch vụ ngân hàng số 1.
Đối với ngân hàng thương mại Dịch vụ NHS giúp ngân hàng tiết kiệm nguồn lực, đạt những phân khúc thị trường mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của khách hàng, theo đó dịch vụ NHS có những vai trò sau: Một là, giúp các NHTM giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính và vận hành, mang lại cho khách hàng năng suất cao, sự tự động hóa. Các NHTM triển khai dịch vụ NHS sẽ cắt giảm được công việc giấy tờ, giảm chi phí hoạt động và tăng tốc độ giao dịch. Hơn nữa, NHTM cũng có thể giảm bớt nhân sự tại các quầy giao dịch, giảm bớt sai sót thao tác. Hai là, giúp các NHTM cung cấp dịch vụ trọn gói, theo đó, các NHTM có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan đến khách hàng, bảo hiểm, đầu tư.
NHTM có thể cung cấp cho khách hàng mọi thông tin cần thiết về khách hàng và có thể thực hiện dễ dàng các chương trình giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới, hoặc chương trình khuyến mãi. Ba là, giúp các NHTM mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh. Đây là một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó, nâng cao khả năng cạnh tranh; Hơn nữa, nó còn giúp các NHTM thực hiện chiến lược toàn cầu hóa mà không cần mở chi nhánh ở nước ngoài. Bốn là, góp phần tăng nguồn vốn cho NHTM: Công tác thanh toán không dùng tiền mặt càng phát triển, thì nguồn vốn khách hàng huy động được từ số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế sẽ tăng lên, tăng nguồn vốn 15 tín dụng của khách hàng.