CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, phân loại dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ ngân hàng.
Tính đa dạng, phức tạp, vô hình của các loại hình dịch vụ ngân hàng làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ ngân hàng trở nên khó khăn. Xét trên góc độ Marketing, dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhận được của khách hàng, tổ chức tài chính. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về dịch vụ tài chính là“bất kì dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp”. Dịch vụ tài chính gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm).
Trong các dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là một trong những loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại và phong phú về hình thức. Theo tác giả Đỗ Xuân Hồng trong bài báo “Dịch vụ ngân hàng trong thời đại công nghệ thông tin và hội nhập kinh tế” (tạp chí ngân hàng số 8/2003) viết: “Dịch vụ ngân hàng là các phương tiện, công cụ vô hình dùng để chuyển tải các loại hình hoạt động kinh doanh ngân hàng bằng các phương tiện công cụ hữu hình (các loại máy móc, thiết bị, công nghệ)”. Như vậy ở Việt Nam, việc phân biệt rõ ràng thế nào là dịch vụ ngân hàng vẫn chưa có khái niệm chính thức.
Do vậy, từ các định nghĩa đã nêu trên, luận văn sử dụng khái niệm dịch vụ ngân hàng như sau: “Dịch vụ ngân hàng được hiểu là dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp bao gồm dịch vụ huy động vốn, tín dụng, thanh toán, tài chính phái sinh, ngoại hối và các dịch vụ khác”. Phân loại dịch vụ ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các NHTM ngày càng thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác. Dựa vào bảng cân đối kế toán Dựa vào bảng cân đối kế toán, người ta chia hoạt động ngân hàng thành hoạt động nội bảng và hoạt động ngoại bảng. - Hoạt động nội bảng: bao gồm tất cả các dịch vụ ngân hàng được phản ánh trên bảng cân đối kế toán.
Các dịch vụ nội bảng có thể chia thành dịch vụ Nợ và Vốn chủ sở hữu (hay nghiệp vụ nguồn vốn) và dịch vụ Tài sản Có (hay nghiệp vụ sử dụng vốn). - Hoạt động ngoại bảng: bao gồm các dịch vụ không được phản ánh trên bảng cân đối kế toán của NHTM như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ủy thác, đại lý, tư vấn và cung cấp thông tin. Dựa vào đối tượng khách hàng Dựa vào đối tượng khách hàng có thể chia hoạt động ngân hàng thành các dịch vụ đối với khách hàng doanh nghiệp (KHDN) và dịch vụ đối với khách hàng cá nhân (KHCN). - Các dịch vụ đối với KHCN: Khác với đối tượng KHDN, KHCN thường chiếm tỉ trọng lớn về số lượng nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ về doanh số giao dịch.
Tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu giao dịch với ngân hàng của KHCN ngày càng tăng thì nghiệp vụ đối với KHCN ngày càng được chú ý hơn. Đối với KHCN, NHTM có thể thực hiện các nghiệp vụ như: tiền gửi cá nhân, tiền gửi tiết kiệm, thẻ thanh toán, cho vay tiêu dùng, cho vay xây dựng sửa chữa mua nhà, cho vay trả góp, cho vay kinh tế hộ gia đình. - Các dịch vụ đối với KHDN: KHDN là những khách hàng có tư cách pháp nhân như: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. So với KHCN, số lượng KHDN thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng doanh số giao dịch thường lớn hơn.
Khi cung cấp dịch vụ cho KHDN, ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch do lợi thế về quy mô giao dịch. Tùy theo chiến lược Luan van 7 phát triển của mỗi ngân hàng mà trong bộ máy kinh doanh có thể tổ chức theo các nghiệp vụ kinh doanh hoặc theo nhóm KHDN: bộ phận KHDN lớn, bộ phận KHDN vừa và nhỏ. Đối với KHDN, ngân hàng thương mại có thể thực hiện các nghiệp vụ sau: mở tài khoản tiền gửi thanh toán, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các doanh nghiệp, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, cho vay, bảo lãnh, môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính. Dựa vào thu nhập của các dịch vụ Theo thu nhập của các dịch vụ, người ta chia dịch vụ ngân hàng thành dịch vụ tín dụng và phi tín dụng.
- Dịch vụ tín dụng: bao gồm các dịch vụ cho vay như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, tín dụng thấu chi, bao thanh toán, chiết khấu chứng từ có giá, cho vay dự án, đồng tài trợ, cho vay qua phát hành thẻ tín dụng… Thu nhập của dịch vụ này được thể hiện thông qua yếu tố lãi suất. - Dịch vụ phi tín dụng: bao gồm các dịch vụ mà thu nhập do dịch vụ tạo ra được thể hiện thông qua phí dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, cho thuê két sắt, dịch vụ ủy thác, bảo lãnh… Dựa vào sự ra đời của các loại hình dịch vụ ngân hàng cung cấp - Dịch vụ ngân hàng truyền thống: là những dịch vụ có lịch sử lâu đời, sự ra đời và hoạt động của các dịch vụ này gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngân hàng. Đây là những dịch vụ cơ bản, là hoạt động chính đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng truyền thống có thể kể đến là: dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm, nhận tiền gửi thanh toán, dịch vụ cho vay… - Dịch vụ ngân hàng hiện đại: bao gồm những dịch vụ ngân hàng truyền thống được nâng cấp, phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại và những dịch vụ hoàn toàn mới được cung cấp nhằm đem lại những tiện ích mới cho người sử dụng.
Có thể kể đến các dịch vụ như: dịch vụ cho vay trả góp, cho vay đồng tài trợ, bao thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử… Luan van 8 1. Dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ ngân hàng điện tử. Như vậy, NHĐT bao gồm toàn bộ hệ thống giúp cho khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp truy cập được vào tài khoản, tiến hành giao dịch hay thu thập thông tin về sản phẩm dịch vụ tài chính thông qua mạng lưới công và tư, trong đó có Internet.
Để sử dụng dịch vụ NHĐT, khách hàng sử dụng các thiết bị điện tử như máy tính cá nhân, PDA (Per digital assistant), ATM, Kiosk điện tử, điện thoại để truy cập vào hệ thống. Theo Shahcaf Clarke (2009), các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Anh về E-banking, “NHĐT là sự cung cấp thông tin và dịch vụ của ngân hàng thông qua trang chủ của ngân hàng trên mạng toàn cầu”. Như vậy, dịch vụ NHĐT không chỉ bó hẹp ở dịch vụ ngân hàng truyền thống như của FFIEC nhưng lại chỉ giới hạn ở những dịch vụ ngân hàng thông qua mạng Internet. Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
Trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. Trong quy định về các nguyên tắc quản lí rủi ro trong hoạt động NHĐT ban hành kèm theo quyết định 35/2006/QĐ-NHNN, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã đưa ra khái niệm về hoạt động NHĐT là: “Hoạt động NHĐT là hoạt động của ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử”. Cũng theo Quyết định này, kênh phân phối điện tử được hiểu là: “Hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lí giao dịch được Tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”. Luan van 9 Từ các định nghĩa nêu trên, luận văn sử dụng khái niệm dịch vụ NHĐT như sau: “Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua phương thức điện tử”.
Giao dịch điện tử không chỉ giới hạn trong phạm vi mạng Internet và các mạng thông tin khác, mà còn mở rộng ra đối với tất cả các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử, như giao dịch qua hệ thống giao dịch tự động (ATM banking), qua hệ thống chấp nhận thẻ (POS banking), qua điện thoại cố định (Telephone banking), dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet banking)… 1. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử Đối với khách hàng của ngân hàng, việc sử dụng dịch vụ NHĐT đã dần trở thành nhu cầu không thể thiếu. Đó có thể chỉ là dịch vụ truy vấn thông thường, dịch vụ chuyển khoản hoặc dịch vụ thanh toán, dần dần dịch vụ NHĐT đã tiến đến phục vụ các nghiệp vụ phức tạp hơn như kinh doanh ngoại tê, cho vay, đầu tư tự động… - Dịch vụ NHĐT có tốc độ xử lí giao dịch nhanh chóng: Dịch vụ NHĐT cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ngắn nhất. Trong thời đại hiện nay quỹ thời gian của mọi người càng trở nên eo hẹp, khách hàng mong muốn chỉ ngồi một chỗ và kích chuột là có thể thực hiện được giao dịch của mình.
Hiện nay thời gian xử lí cho một giao dịch ngày càng giảm, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Các ngân hàng đều chú trọng nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi (Core banking) để có thể mang lại những dịch vụ NHĐT ổn định nhất, có thời gian xử lí giao dịch nhanh nhất để làm hài lòng khách hàng.