CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ DÀNH CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp và tổ chức tại ngân hàng thương mại 1. Khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của ngân hàng thương mại - Khái niệm Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Khoản 10, Điều 4 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [18, tr.
Theo Phạm Thị Huyền và các cộng sự (2016), “Các khách hàng tổ chức thường được hình thành trên các thị trường điển hình như: thị trường các doanh nghiệp, thị trường bán buôn, thị trường các tổ chức nhà nước, thị trường các tổ chức xã hội” [19, tr.13] Như vậy, khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của NHTM có thể được hiểu là các khách hàng là công ty, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp khác,. có tư cách pháp nhân, có nhu cầu hiện tại và tiềm năng đối với các sản phẩm, dịch vụ mà NHTM cung cấp. - Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của NHTM “Thứ nhất, mục đích sử dụng dịch vụ ngân hàng của DN&TC là nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khác với cá nhân, sử dụng dịch vụ ngân hàng để tối đa hóa các lợi ích cá nhân của người sử dụng, dịch vụ NHTM đối với KHDN&TC dựa trên cơ sở tính toán chi phí và lợi ích của DN&TC nhằm tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức, phục vụ cho hoạt động kinh doanh, các hoạt động thanh toán chuyển khoản, tiền gửi, mua bán ngoại tệ và thanh toán các khoản vay ngân hàng của 11 doanh nghiệp.
Thứ hai, quy mô giao dịch của KHDN&TC trong các NHTM lớn hơn nhiều so với KHCN. Mặc dù DN&TC chỉ chiếm số lượng nhỏ hơn nhiều so với KHCN, nhưng quy mô mỗi giao dịch của KHDN&TC lại lớn hơn nhiều, do tài sản của doanh nghiệp thường lớn; mỗi giao dịch nhằm thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; doanh nghiệp cũng thường nhận các khoản thanh toán về tài khoản; số lượng giao dịch thường xuyên hơn so với KHCN. Thứ ba, quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng là quyết định của tập thể. Trong tổ chức, có nhiều người sẽ tham gia vào quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng, nhằm đảm bảo việc sử dụng dịch vụ ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất với tổ chức, qua đó, ảnh hưởng đến lợi ích của tất cả cá nhân trong tập thể.
Thứ tư, việc cung ứng dịch vụ ngân hàng đối với DN&TC có thể ảnh hưởng lớn đến việc thu hút và xây dựng tệp KHCN trong các NHTM. Khác với các hàng hóa và dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng thường ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp nhận và sử dụng dịch vụ ngân hàng của cán bộ nhân viên trong DN&TC. Một trong số các dịch vụ ngân hàng đối với DN&TC là dịch vụ đổ lương. Khi cung cấp dịch vụ đổ lương, đồng thời, ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ mở tài khoản đối với cán bộ và nhân viên công ty để hoạt động đổ lương của doanh nghiệp được nhanh chóng, thuận tiện.
Ngoài ra, khi DN&TC sử dụng dịch vụ thanh toán tới các khách hàng và đối tác của họ, bao gồm cả tổ chức và cá nhân cũng làm mở rộng mạng lưới khách hàng của ngân hàng, do các đối tác có xu hướng sử dụng dịch vụ của một ngân hàng đồng nhất để cho các hoạt động được nhanh chóng và thuận tiện. Thứ năm, các nghiệp vụ ngân hàng dành cho DN&TC cũng đa dạng hơn rất nhiều so với các KHCN, bao gồm cả thanh toán, bảo lãnh, tiền gửi, vay và trả nợ, LC, nghiệp vụ phái sinh, tiền tệ,. Thứ sáu, ngoài việc phải tuân thủ các quy định của NHNN và NHTM cổ phần trong việc luân chuyển, sử dụng nguồn vốn đúng với mục đích và pháp luật, KHDN&TC còn phải tuân thủ theo quy định pháp luật của Nhà nước về các hoạt động kinh doanh, đầu tư, thương mại,. 12 Thứ bảy, tại một số quốc gia, việc mở và sử dụng tài khoản ngân hàng đối với DN&TC là bắt buộc, nhằm kiểm soát dòng tiền, hoạt động kinh doanh và quản lý thuế của các DN&TC” [10, tr.
Phân loại khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của ngân hàng thương mại “NHTM là trung gian thanh toán trong cả nước, đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM tác động đến tất cả các thành phần trong nền kinh tế. Do vậy, KHDN&TC trong NHTM cũng rất đa dạng. Căn cứ vào tính chất các dịch vụ ngân hàng đối với KHDN&TC, có thể phân loại KHDN&TC của NHTM thành các loại sau đây : - Đối với doanh nghiệp: + Theo hình thức pháp lý doanh nghiệp, chía khách hàng doanh nghiệp thành 5 loại sau: Thứ nhất, Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động trong doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Thứ hai, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Thứ ba, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Thứ tư, Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Thứ năm, Công ty hợp danh: là loại hình doanh nghiệp mà trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung, cùng nhau kinh doanh dưới một tên gọi 13 chung là thành viên hợp danh, ngoài ra có thể có thành viên góp vốn. + Theo quy mô doanh nghiệp chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ - Đối với tổ chức, có thể chia thành các loại sau: + Tổ chức công và tổ chức tư Tổ chức công là loại hình tổ chức mà không có một chủ sở hữu cụ thể nào đó, hoặc tổ chức này có thể do Nhà nước quản lý; chẳng hạn như bệnh viện, trường học công,… Tổ chức tư là loại hình tổ chức do 1 hoặc 1 nhóm người sở hữu cụ thể.
Chẳng hạn như công ty, bệnh viện tư nhân,… + Tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận Mỗi tổ chức được thành lập đều hướng tới mục tiêu hoạt động riêng và tổ chức lợi nhuận hay phi lợi nhuận cũng là hình thái của cách phân chia này. Tổ chức lợi nhuận là tổ chức được thành lập hướng tới mục đích làm thế nào để tăng doanh thu, lợi nhuận nhiều hơn nữa. Tổ chức phi lợi nhuận thì yếu tố lợi nhuận không được coi là mục đích chính để phát triển, thay vào đó nó hướng tới mục tiêu chung phát triển vì cộng đồng. Ví dụ về tổ chức phi lợi nhuận: Hội chữ thập đỏ, Viện Goethe, Quỹ Mozilla, Mayo Clinic/Foundation,… + Tổ chức chính thức và phi chính thức Tổ chức chính thức là tổ chức mà mỗi thành viên trong đó đều được xác định cụ thể về nhiệm vụ, chức năng và trách nhiệm cụ thể.
Đồng thời, các hoạt động dựa trên việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ đều dựa trên sự tuân thủ của pháp luật. Tổ chức phi chính thức là loại hình tổ chức được hình thành ngoài ý muốn của bộ máy quản trị, nó hoạt động dựa trên các mối quan hệ cá nhân” [9, tr. Dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp và tổ chức tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng doanh nghiệp và tổ chức của ngân hàng thương mại 14 a) Khái niệm - Dịch vụ ngân hàng điện tử Khái niệm dịch vụ NHĐT được xuất phát từ khái niệm thương mại điện tử vì NHĐT chính là tên gọi của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.
Thương mại điện tử là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán và người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh. Thương mại điện tử là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết các tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện tử. Nhìn chung thương mại điện tử là các dạng của giao dịch thương mại dựa trên quả trình xử lý và chuyển giao số liệu số hoá bao gồm cả văn bản, âm thanh và hình ảnh.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử như: Theo Trần Văn Hòe (2015), “Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy cập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới” [7, tr. Theo cách hiểu này, dịch vụ ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng.