CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TẠI NHTM 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ NHBL tại NHTM 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng.
Với vai trò là một tổ chức tài chính trung gian chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, NHTM có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 9). Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về NHTM như: Ở Việt Nam, tại khoản 2, điều 4 luật tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động liên quan đến tiền tệ nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Tại Luật này định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc cung ứng, kinh doanh thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Vai trò của NHTM - Ngân hàng là đơn vị cung cấp vốn cho nền kinh tế: Ngân hàng thương mại ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá.
“Thực trạng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, khi sản xuất hàng hoá phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn đề này giải quyết bằng cách nào, và các chủ thể của nền kinh tế phải đi tìm các câu trả lời thông qua các giải pháp cụ thể. Trong đó, việc NHTM ra đời là chìa khoá giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn. Các ngân hàng cũng cân đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển.
Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn. Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được. Chỉ có ngân hàng - một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 19). - Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường “Chủ thể của thị trường là doanh nghiệp và khách hàng.
Hai chủ thể này có mối quan hệ tiền – hàng với nhau khá chặt chẽ, giữa họ có hoạt động giao dịch, bao gồm những giao dịch bằng tiền, đòi hỏi có sự tham gia của các ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng cần vốn đầu tư lớn và để đáp ứng được thì chỉ có các ngân hàng. Ngân hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp thực hiện được các cải tiến của mình, có được các sản phẩm có chất lượng, giá thành rẻ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Cũng tương tự như vậy, khi khách hàng cần mua hàng hóa khối lượng lớn từ doanh nghiệp, họ cũng cần có ngân hàng bảo lãnh và bơm tiền thông qua tín dụng để thực hiện thanh toán.
Do vậy, có thể khẳng định được vai trò cầu nối quan trọng giữa khách hàng và doanh nghiệp là ngân hàng trong vai trò thực hiện chức năng giao dịch tiền tệ” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 19). - NHTM là công cụ giúp cơ quan Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế “Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại là trung tâm tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi sự dao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác, do vậy, sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều kiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 20). - NHTM là chiếc cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế “Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trở nên cần thiết, cấp bách. Trong xu hướng đó, nền tài chính của quốc gia cần phải hoà nhập với nền tài chính thế giới. Các ngân hàng thương mại sẽ trở thành trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập.
Vai trò của ngân hàng thương mại ngày càng nổi bật trong các hoạt động giao dịch quốc tế như nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh. và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng và phát triển” ((PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 20-21). Dịch vụ ngân hàng 1. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng được hiểu là quá trình cung ứng dịch vụ thuộc phạm vi nghiệp vụ ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về vốn và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.
Cũng giống như các dịch vụ thông thường, dịch vụ Ngân hàng mang các đặc điểm sau đây: - Tính vô hình: Dịch vụ ngân hàng tồn tại dưới dạng vô hình. Nó được hình thành khi khách hàng và ngân hàng thương thương mại có những tương tác với nhau thông qua hoạt động giao dịch của họ với đại diện của ngân hàng là các giao dịch viên. - Tính không tách rời: Dịch vụ ngân hàng được hình thành đồng thời với quá trình tiêu thụ dịch vụ của khách hàng. Nghĩa là, nó được hình thành trong quá trình 2 bên diễn ra các giao dịch.
Khi giao dịch kết thúc, dịch vụ ngân hàng cũng kết thúc. - Tính không đồng nhất về mặt chất lượng: Một sản phẩm dịch vụ tài chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 được kết hợp của các yếu tố bên trong (công nghệ, nhân lực, …), bên ngoài (thể chế, môi trường, …) và do sự cạnh tranh của các NHTM khác, các tổ chức phi tài chính nên sản phẩm thường không có tính ổn định về mặt chất lượng, bởi sự phụ thuộc vào tính ổn định của người thực hiện dịch vụ, người tiếp nhận dịch vụ, và phương tiện hỗ trợ thực hiện dịch vụ. Tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ này tạo nên tính đa dạng của dịch vụ ngân hàng ngay trong nội bộ ngân hàng, và tạo nên tính đa dạng không lượng hóa được giữa các ngân hàng thương mại. - Tính không thể tích trữ: Do dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình sản xuất, đồng thời không có tính đồng nhất, lại mang tính vô hình nên dịch vụ ngân hàng không thể cất trữ được.
Nó chỉ được hình thành khi có giao dịch giữa nhân viên giao dịch và khách hàng sử dụng dịch vụ. Phân loại dịch vụ ngân hàng * Phân loại theo lịch sử hình thành - Dịch vụ ngân hàng truyền thống: “ Là những dịch vụ đã đã được ngân hàng thương mại cung cấp lâu năm, có quá trình hình thành và phát triển lâu dài và khách hàng đã quen với nó,bao gồm: huy động vốn, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay, thanh toán, bảo lãnh, ngân quỹ, kinh doanh ngoại tệ, bảo quản vật có giá trị, giá trị, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, quản lý tài sản và ủy thác đầu tư” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 26). Dịch vụ ngân hàng hiện đại: “Là những dịch vụ ngân hàng truyền thống được nâng cấp, phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật hiện đại và những dịch vụ hoàn toàn mới cung cấp nhằm đem lại những tiện ích mới cho người sử dụng,bao gồm: thẻ ngân hàng, ngân hàng điện tử, quản lý tiền mặt, thư bảo đảm thực hiện đấu thầu, tư vấn tài chính, hợp đồng trao đổi tín dụng, hợp đồng quyền tín dụng, hợp đồng trao đổi khoản tín dụng rủi ro, bảo hiểm, đại lý” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà, 2013; 26). * Phân loại theo tính chất nghiệp vụ Các dịch vụ tạo nguồn cung về vốn: Đây là các dịch vụ hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ nguồn vốn của các tổ chức kinh tế và các cá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 nhân trong nền kinh tế.
Bao gồm cả nhận tiền gửi và phát hành GTCG, vay vốn của NHNN và các TCTD khác và các dịch vụ huy động vốn khác Các dịch vụ sử dụng vốn và sinh lời: Dịch vụ cho vay: bao gồm cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ theo chương trình, cho vay theo dự án, chương trình chỉ định của Chính Phủ, cho vay thấu chi Dịch vụ chiết khấu GTCG, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính. - Các dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối Thanh toán bằng đồng bản tệ và đồng ngoại tệ, bao gồm: thanh toán chuyển tiền điện tử, thanh toán L/C và thanh toán quốc tế qua mạng như Swift, Telex; chuyển tiền nhánh qua Money Grame, Western Union. Dịch vụ kinh doanh ngoại hối: nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ có kỳ hạn * Phân loại theo đối tượng sử dụng Dịch vụ của ngân hàng có thể chia thành 2 loại: Dịch vụ Ngân hàng bán buôn: đây là dịch vụ bán cho đối tượng KH có quy mô lớn, quy mô thể hiện ở: doanh thu, số lượng lao động.