phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, phụ lục, danh mục bảng, hình, danh mục giải thích từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc của luận văn gồm ba chương như sau: Chuơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định. Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ NHBL tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Đối với nền kinh tế hiện đại, bên cạnh nông nghiệp và công nghiệp thì thương mại dịch vụ là lĩnh vực giữ vai trò trọng yếu. Tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, thương mại dịch vụ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và trao đổi hàng hóa phát triển.
Cho đến nay, khái niệm về dịch vụ vẫn còn tương đối phức tạp do nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có sự thống nhất. Hiệp định chung về thương mại GATS (năm 1995) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ, thay vào đó đã chia nền kinh tế thành 12 ngành lớn. Trong mỗi ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ khác nhau. Dịch vụ tài chính được xếp trong ngành thứ 7, bao gồm dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, DVNH và các dịch vụ tài chính khác.
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, DVNH là một bộ phận của dịch vụ tài chính nói chung, bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến giao dịch tiền tệ như huy động, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng. Đó là những dịch vụ mà chỉ có ngân hàng với các ưu thế riêng mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn, đầy đủ. Ngược lại, dịch vụ này sẽ gắn liền và nhạy cảm với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Theo đó, ngân hàng được coi là một “siêu thị” dịch vụ, một cửa hàng cung ứng hàng trăm, thậm chí hàng nghìn các sản phẩm dịch vụ tài chính khác nhau tùy theo cách phân loại và mức độ phát triển của ngân hàng.
Tại Việt Nam cho đến nay cũng chưa có một khái niệm chuẩn xác về DVNH. Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 cũng không nêu ra định nghĩa về DVNH mà chỉ đưa ra định nghĩa về hoạt động ngân 10 hàng tại khoản 12 điều 4, cụ thể như sau: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: (a) Nhận tiền gửi; (b) Cấp tín dụng; (c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì mọi nghiệp vụ trung gian của ngân hàng có thể được xem là các DVNH. Khi các ngân hàng huy động những khoản tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế để thực hiện cấp tín dụng và thanh toán qua tài khoản thì cũng tức là khi các ngân hàng đang làm dịch vụ.
Có thể khái quát rằng, DVNH bao hàm toàn bộ các nghiệp vụ mà ngân hàng kinh doanh và cung ứng thường xuyên như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu tài chính và giao dịch tiền tệ của khách hàng được pháp luật cho phép. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL là một bộ phận của DVNH khi phân chia theo tiêu thức thị trường. Nếu DVNH bán buôn là những DVNH chỉ dành cho các doanh nghiệp lớn và thường được cung ứng với số lượng nhiều thì với dịch vụ NHBL, phần đông những người dân và hộ gia đình nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận các sản phẩm DVNH, từ đó tạo ra một thị trường đa dạng và năng động. Theo đó, dịch vụ NHBL được hiểu một cách đơn giản nhất chính là đưa sản phẩm DVNH đến mọi đối tượng, mọi tầng lớp trong xã hội với sự đa dạng, phong phú và tiện ích.
Mặt khác, nếu giải thích theo nghĩa của cụm từ “bán lẻ” trong thương mại thì, dịch vụ NHBL được hiểu là các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng trực tiếp cho khách hàng với số lượng ít và nhỏ lẻ. Nó khác với DVNH bán buôn khi chỉ cung ứng dịch vụ gián tiếp cho các tổ chức trung gian với số lượng lớn. Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ NHBL. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT thì “Dịch vụ NHBL là việc cung ứng sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách 11 hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, DVNH thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông”.
Cuốn từ điển Oxford dành riêng cho lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng đã giải thích: “Dịch vụ NHBL (Retail banking) là DVNH dành cho người dân, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính, bao gồm các loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và giao dịch, cho vay thế chấp, cho vay cá nhân, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng”. WTO cũng đưa ra khái niệm về dịch vụ NHBL, đó là nơi KHCN có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, vay vốn thế chấp, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm. Trong giáo trình Tiền tệ ngân hàng và Thị trường tài chính, Frederic (2001) đã định nghĩa: “Dịch vụ NHBL là DVNH được cung ứng đến từng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ thông qua mạng lưới giao dịch của ngân hàng; hoặc là các DVNH mà khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”. Đây cũng chính là khái niệm được tác giả luận văn đồng tình nhất vì đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa về dịch vụ NHBL.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Nhìn chung, dịch vụ NHBL có năm đặc điểm cơ bản như sau: Một là, đối tượng khách hàng đa dạng và phong phú, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp siêu vi mô (DNSVM). Đây là lực lượng khách hàng đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực, có nhiều tiềm năng và nhu cầu đa dạng. Khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ NHBL nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, sản xuất kinh doanh, nâng cao giá trị và tiện ích trong cuộc sống. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm khách hàng có tính không đồng nhất cao từ mức thu nhập, chi tiêu, địa vị xã hội, lối sống, lứa tuổi, thói quen… đến những phản ứng riêng cũng như có nhu cầu riêng đối với các sản phẩm DVNH.
12 Hơn nữa, nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của khách hàng bán lẻ thường xuyên thay đổi, ở mỗi một giai đoạn nhất định họ lại có những mong muốn, nhu cầu khác nhau với yêu cầu về độ thỏa mãn khác nhau. Điều này đòi hỏi các NHTM phải nghiên cứu và phân đoạn thị trường một cách cẩn thận, phải có sự nhận biết sâu sắc về quá trình cũng như các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng của khách hàng, thường xuyên cho ra đời những sản phẩm mới, đa dạng nhằm đáp ứng sự thay đổi nhu cầu thường xuyên của khách hàng ở từng giai đoạn và điều kiện nhất định. Hai là, số lượng giao dịch rất lớn nhưng giá trị của mỗi giao dịch tương đối nhỏ nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch rất cao. Dịch vụ NHBL nhằm đáp ứng các nhu cầu tài chính và giao dịch tiền tệ khổng lồ của người dân trong khi để phục vụ mỗi đối tượng khách hàng bán lẻ, ngân hàng cũng phải tốn chi phí giống như khi phục vụ một khách hàng bán buôn nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch của NHBL sẽ rất cao.
Tuy lợi nhuận thu được từ mỗi giao dịch tương đối nhỏ nhưng số lượng giao dịch rất lớn nên tổng lợi nhuận thu được từ dịch vụ NHBL là đáng kể. Ba là, tiến bộ của khoa học công nghệ có tác động rất lớn đến việc cung ứng các dịch vụ NHBL. Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL có nhu cầu rất đa dạng và ngày càng trở nên phức tạp theo sự hiểu biết gia tăng của người dân. Để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, đòi hỏi các dịch vụ NHBL phải liên tục được cập nhật, thay đổi cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Hơn nữa, KHCN vốn rất nhạy cảm với chính sách marketing nên họ dễ dàng thay đổi nhà cung cấp khi các sản phẩm dịch vụ không tạo ra sự khác biệt và có tính cạnh tranh cao. Gia tăng hàm lượng công nghệ là một trong những phương thức tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm DVNH. CNTT tạo tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch ngân hàng trực tuyến được thực hiện thay thế cho các giao dịch trực tiếp tại quầy, giúp ngân hàng tinh gọn bộ máy hoạt động. 13 Bốn là, sản phẩm dịch vụ NHBL khá đơn giản và dễ thực hiện.
Đối tượng của NHBL là KHCN nên thường tập trung vào các DVNH cơ bản như nhận tiền gửi tiết kiệm, cho vay, thanh toán qua tài khoản… Các dịch vụ này không đòi hỏi quy trình, thủ tục quá phức tạp như các DVNH bán buôn. Tuy nhiên, vì đặc tính đơn giản nên các dịch vụ NHBL rất dễ bị sao chép giữa các ngân hàng với nhau, từ đó tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường dịch vụ NHBL. Năm là, dịch vụ NHBL có độ rủi ro thấp. Nếu các DVNH bán buôn tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế, trung gian tài chính với giá trị giao dịch lớn, độ rủi ro cao thì dịch vụ NHBL cung cấp các sản phẩm dịch vụ nhỏ lẻ cho số lượng khách hàng lớn, giúp ngân hàng có điều kiện để phân tán được rủi ro trong kinh doanh.
Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.