phần mở đầu của luận văn, ngân hàng bán lẻ hiện nay đang dần chiếm ưu thế trong hầu hết các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Từ đó, khái niệm ngân hàng bán lẻ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ được nhắc đến nhiều trong các bài viết và đề tài nghiên cứu cũng như trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Theo cách tiếp cận chuẩn hóa (STA) thì hoạt động kinh doanh ngân hàng được chia thành 8 lĩnh vực gồm: tài chính doanh nghiệp (corporate finance), các hoạt động mua bán (trading & sales), ngân hàng bán lẻ (retail banking), ngân hàng thương mại (comnercial banking), thanh toán (payment & settlement), đại lý dịch vụ (agency services), quản lý tài sản có (asset management) và môi giới bán lẻ (retail brokerage). Như vậy ngân hàng bán lẻ được hiểu là một lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại với nghĩa đen là cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng với số lượng nhỏ.
Với một cách tiếp cận khác, từ Tổ chức thương mại thế giới thì ngân hàng bán lẻ là nơi mà ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Vậy dịch vụ ngân hàng bán lẻ là gì? Có không ít khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ, trong đó phải kể đến một số khái niệm sau: Theo WTO, “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ (DVNHBL) là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến tay từng cá nhân riêng lẻ thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông”. “DVNHBL là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân” - Theo từ điển Ngân hàng và tin học. 7 Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh thực tiễn tại các ngân hàng tại Việt Nam là đang thực hiện tái cấu trúc mô hình theo đối tượng khách hàng: cá nhân, SMEs và doanh nghiệp lớn thì họ đang sử dụng khái niệm sau: “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ được hiểu là các dịch vụ ngân hàng được cung ứng tới từng cá nhân riêng lẻ, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới kênh phân phối truyền thống hoặc mạng lưới phân phối điện tử”.
Đây có thể coi là một khái niệm khá hoàn chỉnh và đang được áp dụng trong thực tiễn hoạt động kinh doanh tại hầu hết các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng khái niệm này cho đề tài nghiên cứu của mình. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Những đặc điểm của DVNHBL sau đây được đặt trong mối tương quan so sánh với mảng kinh doanh đối trọng của nó trong các ngân hàng thương mại là bán buôn. Điều đó được coi là phù hợp và thiết thực với các ngân hàng nhằm mục đích đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp với đặc điểm của từng mảng kinh doanh mà mình hướng tới.
Có thể kể ra 8 đặc điểm sau của DVNHBL: Một là, đối tượng của DVNHBL bao gồm một số lượng lớn các cá nhân, hộ gia đình, SMEs. Với đối tượng khách hàng như vậy, quy mô khách hàng bán lẻ của một ngân hàng thương mại có thể lên tới vài chục triệu khách hàng cá nhân, vài triệu hộ kinh doanh và hàng triệu doanh nghiệp SMEs. Ngay trong số các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam thì số lượng các doanh nghiệp SMEs của Việt Nam chiếm tới 93% trong tổng số các doanh nghiệp. Do đó, thông thường đối với một ngân hàng kinh doanh cả hai tay (bán buôn và bán lẻ) thì số lượng khách hàng bán lẻ chiếm khoảng 70-90% trên tổng số khách hàng.
Hai là, số lượng giao dịch lớn và giá trị từng giao dịch nhỏ: Điều này là tương ứng với đối tượng khách hàng mà nó nhắm tới. Nhu cầu của các khách hàng bán lẻ thường nhỏ lẻ nhưng số lượng thì rất lớn tương ứng với số lượng khách hàng. Một gói tín dụng tiêu dùng của một khách hàng cá nhân hay một hợp đồng tài trợ kinh doanh cho một doanh nghiệp SMEs thường nhỏ hơn rất nhiều so với một doanh nghiệp lớn. Hiểu được điều này, các ngân hàng thương mại thường có chính 8 sách giá, phí phù hợp với đặc điểm kinh doanh này sao cho biên lợi nhuận của một đơn vị sản phẩm cung ứng cho khách hàng bán lẻ thường cao hơn từ 1.5 đến 2 lần so với bán buôn.
Vì vậy, có thể nói hoạt động NHBL thực sự đem lại một nguồn lợi nhuận rất tốt và bền vững cho ngân hàng thương mại. Hai đặc điểm trên chính là hai yếu tố cốt lõi xây dựng nên một đặc tính của hoạt động kinh doanh bán lẻ rủi ro được phân tán. Đây cũng là một đặc tính rất ưu việt của việc kinh doanh ngân hàng bán lẻ so với ngân hàng bán buôn. Ba là, sản phẩm DVNHBL rất đa dạng, phong phú.
Điều này cũng là do đối tượng khách hàng mà NHBL hướng tới là một số lượng lớn khách hàng đa dạng về độ tuổi, phong phú về nhu cầu, về tâm lý, tính cách cũng như ở rất nhiều mức độ khác nhau về trình độ, nghề nghiệp hay thu nhập…Từ đó, đòi hỏi NHBL phải thiết kế một số lượng sản phẩm lớn, đa dạng, phải thay đổi không ngừng sao cho phù hợp với đặc tính trên của các khách hàng. Trong khi đó, sản phẩm của khách hàng bán buôn lại có tính ổn định, ít đa dạng hơn. Bốn là, mạng lưới phân phối rộng khắp và đa dạng. Kinh doanh DVNHBL đòi hỏi một lực lượng nhân lực lớn.
Mạng lưới phân phối rộng khắp nhằm hướng tới phục vụ được số lượng lớn khách hàng cũng như đem lại sự thuận tiện cho họ. Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống là chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch thì hiện nay các ngân hàng đều tập trung nguồn lực mở rộng các kênh ngân hàng điện tử nhằm đem lại sự thuận tiện cho khách hàng cũng như có thể phục vụ khách hàng vượt ra khỏi giới hạn về không gian và thời gian. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt đối với ngân hàng bán buôn. Năm là, chi phí giao dịch của DVNHBL lớn.
Vì số lượng khách hàng và số lượng giao dịch lớn, quy mô từng giao dịch nhỏ nên chi phí cho nhân sự phục vụ khách hàng, chi phí cho các hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ, chi phí cho việc quản trị rủi ro cũng rất lớn. Chính vì vậy, các ngân hàng luôn phải tính toán để đẩy biên lợi nhuận của mỗi sản phẩm cung cấp ra cho khách hàng bán lẻ so với khách hàng bán buôn với chi phí giao dịch nhỏ hơn. Sáu là, hoạt động kinh doanh DVNHBL cần có hạ tầng kỹ thuật và công 9 nghệ thông tin hiện tại, liện tục cập nhật và đổi mới không ngừng. Tuy rằng hạ tầng kỹ thuật và công nghệ hiện đại là cần thiết đối với cả bán buôn và bán lẻ nhưng đối với DVNHBL thì đây là yếu tố then chốt.
Trước hết, nó giúp giảm thiểu chi phí hoạt động khi công nghệ giúp xử lý một số lượng lớn các giao dịch nhanh chóng, chính xác cũng như giảm thiểu rủi ro vì có hệ thống báo cáo, kiểm soát kịp thời. Tiếp đến, một hạ tầng kỹ thuật và công nghệ hiện đại còn là điều kiện tiên quyết giúp nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, cung cấp những sản phẩm liên tục cải tiến và tăng trải nghiệm khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Điều kiện thực hiện dịch vụ ngân hàng bán lẻ Một số ngân hàng định hướng phát triển bán buôn, một số khác đã có lợi thế về bán buôn lại muốn chuyển dịch cơ cấu để phát triển đều cả bán buôn và bán lẻ trong khi một số khác chỉ là một ngân hàng chuyên bán lẻ đơn thuần. Nghiên cứu nội dung này cho chúng ta trả lời câu hỏi: một ngân hàng nếu muốn phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần chuẩn bị cho mình những điều kiện nào.
Những điều kiện này cũng xuất phát từ chính đặc điểm riêng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ, cụ thể như sau: - Công nghệ thông tin: Việc ứng dụng thành công các thành tựu khoa học vào các SPDV ngân hàng cung cấp là điều kiện cơ bản, đặc biệt cần thiết giúp ngân hàng phát triển dịch vụ bán lẻ. Hiện tại, khi sự khác biệt về tiện ích sản phẩm giữa các ngân hàng trong hệ thống ngày càng thu hẹp thì chính yếu tố về công nghệ trở thành nhân tố quyết định đến mức độ phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Khi đó, ngân hàng nào có nền tảng công nghệ và chất lượng dịch vụ tốt thì ngân hàng đó sẽ chiếm được ưu thế trong cạnh tranh. Ngoài ra, cũng nhờ vào việc áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động cung ứng sản phẩm ngân hàng mà khách hàng được sử dụng thêm nhiều sản phẩm tiện ích hơn như thanh toán hóa đơn trực tuyến, tiết kiệm online,… tạo điều kiện rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí giao dịch.
- Kênh phân phối sản phẩm: Hoạt động xây dựng các kênh phân phối 10 SPDV là mối quan tâm hàng đầu của DVNH bán lẻ. Để phát triển dịch vụ này đòi hỏi các NHTM phải xây dựng cho mình được hệ thống kênh phân phối đa dạng, đảm bảo việc cung ứng SPDV đến khách hàng trên phạm vi rộng. Bên cạnh hệ thống kênh phân phối truyền thống sẵn có thông qua CN, phòng giao dịch thì hiện nay các kênh phân phối hiện đại qua Internet, qua điện thoại di động, AMT, POS đang được hệ thống NHTM chú trọng mở rộng và phát triển. Bên cạnh việc triển khai các kênh phân phối mới, ngân hàng đồng thời cần chú trọng các biện pháp bán chéo sản phẩm, nhờ đó, mỗi khách hàng có cơ hội tiếp cận đa dạng sản phẩm ngân hàng nhằm gia tăng tiện ích đối với khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận đối với ngân hàng.
- Nguồn nhân lực: Để cung ứng các SPDV ngân hàng bán lẻ đến khách hàng, mỗi cán bộ ngân hàng đồng thời vừa là người tư vấn, hướng dẫn sử dụng dịch vụ vừa là người bán hàng trực tiếp.