CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng: 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng: Ở góc độ chung nhất về thống kê kinh tế, dịch vụ được coi là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Theo Noel Capon (2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, dịch vụ thông thường liên quan con người (giáo dục, y tế), đến sản phẩm (sửa chữa, vận chuyển) hoặc thông tin (nghiên cứu thị trường). Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Bản thân ngân hàng là một dạng kinh doanh tiền, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH2012 thì không có định nghĩa rõ rằng về khái niệm “dịch vụ ngân hàng” mà chỉ đề cập đến các hoạt động nghiệp vụ một ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng bao gồm các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngoại hối nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng và vì mục tiêu lợi nhuận. Theo Đào Lê Kiều Oanh (2012) thì dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất trữ tài sản… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy.
Trong xu hướng phát triển ngân 7 hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền vớihoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ nàymột cách tốt nhất cho khách hàng. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa dịch vụ tài chính là tất cả các dịch vụ có tính chất tài chính, được các tổ chức tài chính cung cấp, bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, theo định nghĩa trên, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, bao gồm: nhận tiền gửi, cho vay, thuê mua tài chính, dịch vụ thanh toán, quản lý tài sản, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tài chính… 1.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng: Các loại hình sản phẩm dịch vụ của ngân hàng được thể hiện dưới dạng dịch vụ nên vừa có những đặc trưng cơ bản như các loại hình dịch vụ thông thường vừa có những đặc điểm riêng biệt. Tác giả khái quát hóa các đặc điểm đó như sau: Tính không tách rời: Dịch vụ ngân hàng không đi theo quy trình như hàng hóa: sản xuất, lưu kho, phân phối mà là sự tạo thành và sử dụng ngay trong quá trình tạo ra chính dịch vụ đó, diễn ra cùng lúc và đồng thời với nhau. Tính khó xác định: Những nhà cung cấp khác nhau cung cấp những dịch vụ khác nhau và khách hàng cũng can thiệp, đóng góp vào quá trình tạo ra dịch vụ, điều đó tạo nên sự không ổn định của loại hình dịch vụ. Do đó, khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ và đây cũng là điều khó khăn trong việc quản lý chất lượng dịch vụ.
Tính không đồng nhất: Dịch vụ ngân hàng là một dạng các hoạt động, quá trình, kinh nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu cho một đối tượng khách hàng cụ thể. Vì thế, một đặc thù riêng là cùng một sản phẩm dịch vụ nhưng cách thức phục vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, đối tượng phục vụ, địa điểm phục vụ khác nhau sẽ mang đến những trải nghiệm khác nhau cho khách hàng. Hầu hết trước 8 đây khách hàng muốn thực hiện dịch vụ ngân hàng đều phải ra giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng bởi chính nhân viên giao dịch và cơ sở vật chất trong quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Ngày nay, với việc ứng dụng vào công nghệ mới các ngân hàng đã chuyển dần các dịch vụ lên kênh số hóa: máy ATM, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thanh toán trực tuyến… Tính vô hình: Tương tự như mọi loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng không có tính hữu hình: không có hình dáng cụ thể, không thể cầm nắm, không thể cân đo đong đếm.
Chỉ khi sử dụng dịch vụ ngân hàng, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ của nó. Trên cơ sở niềm tin, để thu hút khách hàng, ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ, quảng bá sản phẩm, hình ảnh và sự uy tín của ngân hàng, tạo lòng tin nhằm hướng khách hàng đến sử dụng các sản phẩm dịch vụ.3 Phân loại dịch vụ ngân hàng: Dựa trên cách thức cung cấp dịch vụ, dịch vụ ngân hàng được chia làm 2 loại chính là Dịch vụ ngân hàng bán buôn và Dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Dịch vụ ngân hàng bán buôn có thể hiểu là dịch vụ ngân hàng cung ứng cho các công ty, tập đoàn quy mô lớn, các định chế và các cơ quan nhà nước với giá trị giao dịch lớn. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể hiểu là dịch vụ ngân hàng tập trung vào các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ…với giá trị giao dịch nhỏ nhưng số lượng giao dịch lớn.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ: 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Ngân hàng bán lẻ là thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Anh “Retail banking” được định nghĩa bởi Peter S. Rose trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại” là ngân hàng hướng đến người tiêu dùng, cung cấp hầu hết các dịch vụ cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Timothy Clark và cộng sự (2007) định nghĩa dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một tập hợp các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp đến từng cá nhân riêng lẻ, một số 9 doanh nghiệp nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, internet, các kênh điện tử viễn thông và các kênh khác.
WTO cho rằng ngân hàng bán lẻ là nơi mà các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, các phòng giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền, kiểm tra thông tin tài khoản, vay vốn, dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Từ điển giải nghĩa Tài chính – Đầu tư – Ngân hàng – Kế toán Anh Việt, Nhà xuất bản khoa học và kinh tế năm 1999 định nghĩa dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ NHBB là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. Từ đó, dưới góc độ của ngân hàng, ta có thể khái quát khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Dịch vụ NHBL là việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch hoặc các phương tiện thông tin, điện tử viễn thông, internet, điện thoại và các kênh khác. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Nhìn chung, dịch vụ NHBL thực chất là dịch vụ cung cấp bởi ngân hàng và hướng đến cung cấp cho đối tượng là khách hàng cá nhân, khách hàng nhỏ lẻ, do đó nó có các đặc điểm như sau: Số lượng khách hàng lớn: Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL là các cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, một số lượng khách hàng rất lớn và rất phong phú.
Ngân hàng cần phải tìm hiểu để làm đa dạng và phong phú các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất, nhanh chóng và kịp thời những nhu cầu của khách hàng. Việt nam với quy mô dân số ngày càng tăng sẽ càng gia tăng thêm đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ này. Số lượng các giao dịch lớn với giá trị các khoản giao dịch nhỏ: So với giá trị các khoản giao dịch của khách hàng bán buôn từ đối tượng là các doanh nghiệp lớn, thì các khoản giao dịch của dịch vụ NHBL thường nhỏ, bởi mục đích chủ yếu là tiêu dùng 10 và nhu cầu cá nhân. Muốn thu hút khách hàng ở mảng dịch vụ này, ngân hàng cần đa dạng các giao dịch, nhiều tiện ích đi kèm với nhiều chương trình ưu đãi cho khách hàng của mình.
Chi phí bình quân trên mỗi giao dịch thường cao: Dịch vụ NHBL đáp ứng các nhu cầu giao dịch thường xuyên của khách hàng, với số lượng lớn các giao dịch với giá trị nhỏ, do đó chi phí bình quân trên mỗi giao dịch thường cao. Tuy nhiên ngày nay các ngân hàng đều đã đưa công nghệ hiện đại, phần mềm tự động hóa vào các giao dịch nhằm giảm thiểu các chi phí giao dịch. Dịch vụ NHBL dựa trên nền tảng công nghệ thông tin (CNTT): Trong thời đại số hóa, cách mạng 4.0 hiện nay, ngân hàng nào có hệ thống CNTT phát triển, ứng dụng công nghệ số hóa vào các sản phẩm dịch vụ thì sẽ có cơ hội lớn để phát triển mảng sản phẩm dịch vụ NHBL cho chính ngân hàng mình.