CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Các khái niệm, đặc điểm, các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Theo từ điển Tài chính-Đầu tư-Ngân hàng-Kế toán Anh Việt (1999): Dịch vụ bán lẻ là các dịch vụ Ngân hàng thực hiện với khách hàng là cá nhân, thông thường là có quy mô nhỏ và thông qua chi nhánh cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến tay người tiêu dùng. Theo định nghĩa của WTO thì NHBL là loại hình dịch vụ nơi mà khách hàng cá nhân có thể tiến hành các hoạt động như gởi tiền, vay vốn, thanh toán, sao kê tài khoản,.
tại các điểm giao dịch. Dựa trên các định nghĩa, có thể trình bày về dịch vụ NHBL như sau: NHBL là loại hình dịch vụ được cung cấp đến các cá nhân, quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới các chi nhánh, các điểm tiến hành giao dịch và các kênh tiếp thị truyền thông khác. Dịch vụ này bao gồm sản phẩm truyền thống như là tài khoản thanh toán, tiết kiệm, các loại hình về thẻ, các hình thức về vay và sản phẩm khác. Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), dịch vụ NHBL có những đặc điểm sau: Đặc điểm về khách hàng Khách hàng của dịch vụ NHBL chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ.
Đối với các cá nhân, hộ gia đình là khách hàng nhỏ, đây là đối tượng có quy mô giao dịch nhỏ nhưng là đối tượng giao dịch chiếm số lượng lớn, mong muốn tập trung là tiết kiệm cho cá nhân, mở tài khoản chủ yếu giao dịch, vay vốn cho tiêu dùng, sản xuất kinh doanh. Vì thế, nhiều tiêu chí đã được đưa ra để phân nhóm người dùng này, như về giới tính, tuổi tác, thu nhập, loại hình lao động,… Còn đối với đối tượng là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa thì chủ yếu vào vay vốn ngắn hạn để bổ sung vốn ngắn hạn, ngoài ra, xa hơn là đầu tư máy móc, mở rộng cơ sở kinh doanh trong dài hạn. Do vậy, nhằm tạo điều kiện cho quy mô doanh nghiệp 8 này vay vốn cũng như mang lại lợi nhuận tốt cho Ngân hàng thì Ngân hàng cần xác định được khả năng trả lãi xuất phát từ nguồn thu lãi của khách hàng kèm theo phương án vay vốn cùng với đó là kế hoạch trả lãi và gốc của họ. Đặc điểm về quy mô giao dịch Khối lượng giao dịch lớn nhưng tỷ lệ phần trăm “khai thác” thì chiếm giá trị nhỏ là một trong những đặc trưng của dịch vụ bán lẻ.
Vì thế, để có thể tăng cường cho quy mô giao dịch, Ngân hàng cần có động thái cung cấp sản phẩm dịch vụ với chất lượng tốt, đặc biệt là về mức lãi suất cho phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng. Đồng thời, Ngân hàng cần có sự đa dạng về sản phẩm, đặc biệt là phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ thông tin bên cạnh các sản phẩm và dịch vụ truyền thống, nhằm thông qua đó để đáp ứng nhu cầu từng nhóm khách hàng và thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng. Thêm nữa, ngân hàng cũng cần tăng cường khuyến mại, ưu đãi, và giá trị tiện ích mà các chương trình đem lại gồm có như thẻ tín dụng, internet banking, mobile banking để tăng giá trị tính tiện lợi và thu hút khách hàng. Đặc điểm về nhu cầu khách hàng mang tính chất về thời điểm Đối tượng khách hàng của ngân hàng bán lẻ nhắm đến chủ yếu là nhóm khách hàng cá nhân.
Vì, nếu như nhóm đối tượng là tổ chức tài chính thì nhu cầu tài chính mang tính chất là thường xuyên kèm với đó là phương án cho kế hoạch. Trái lại, nhu cầu của KHCN chỉ mang tính chất thời điểm do họ không biết trước được trong tương lai sẽ phát sinh nhu cầu cụ thể như đi du học, mua xe ô tô, thanh toán hoặc khi có những món tiền nhàn rỗi gửi tiết kiệm ngân hàng… Đặc điểm về độ phức tạp cao Việc sử dụng dịch vụ bán lẻ đòi hỏi người dùng phải có nền tảng nhất định về trong việc sử dụng công nghệ hiện đại. Các sản phẩm mới như Ngân hàng điện tử, thẻ tín dụng, vay tiền và tiết kiệm qua nền tảng trực tuyến và các sản phẩm khác đều được xây dựng dựa trên công nghệ kỹ thuật cao và có tính chất phức tạp. Do vậy, để có thể sử dụng các sản phẩm dịch vụ này một cách hiệu quả, người sử dụng cần phải có kiến thức nền tảng về các tính năng của sản phẩm, cách thức sử dụng, các nguy cơ có thể gặp phải kèm theo biện pháp khi gặp vấn đề.
Người dùng 9 cũng cần phải nắm được các quy định, chính sách của ngân hàng để bảo vệ quyền lợi cho mình. Thêm vào đó, bảo mật thông tin là yếu tố cực kỳ nên được chú trọng trong việc sử dụng dịch vụ bán lẻ. Khách hàng cần phải biết cách bảo vệ thông tin, tài khoản cá nhân của mình để tránh các hành vi lừa đảo, mạo danh hoặc tấn công mạng. Do đó, việc nâng cao kiến thức và kỹ năng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ là rất cần thiết để khách hàng có thể sử dụng một cách hiệu quả và an toàn.
Ngân hàng cần phải đưa ra hướng dẫn và cung cấp thông tin một cách chi tiết nhất về các sản phẩm mới nhất, cập nhật các chính sách và quy định để giúp người dùng có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng một cách tốt nhất. Đăc điểm về hệ thống kênh phân phối Để giúp cho sản phẩm được biết tới một cách rộng rải, các ngân hàng cần phải có nhiều chi nhánh, PGD cùng với đội ngũ người lao động để tiếp cận và đáp ứng các nhu cầu đa dạng hơn của nhiều nhóm đối tượng. Bên cạnh đó, ngoài các kênh truyền thống như PGD, chi nhành, NHBL hiện nay cần nghiên cứu, triển khai nhóm các kênh phân phối mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và giảm bớt cho chi phí cố định của ngân hàng, ví dụ như là thông qua các trang thiết bị điện tử, đơn vị chấp nhận thẻ, … 1. Các sản phẩm của dịch vụ NHBL Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), các ngân hàng đã đưa vào nhiều sản phẩm dành cho nhóm người sử dụng mảng bán lẻ.
Các sản phẩm dành cho nhóm này gồm có: huy động vốn từ dân cư, tín dụng dành cho cá nhân, đưa ra các hình thức về thẻ, dịch vụ thanh toán cùng với dịch vụ ngân hàng điện tử,. Huy động vốn dân cư Trên bảng cân đối kế toán của NHTM, tài sản nợ gồm 3 mục chính gồm vốn huy động, vốn vay và vốn tự có. Trong đó, vốn huy động là vốn quan trọng cùng với là chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tài sản nợ, do vậy, yếu tố huy động vốn gây tác động mạnh đến sự phát triển của Ngân hàng. Như vậy, vốn huy động là một tiêu chí đánh giá độ tín nhiệm của khách hàng đối với Ngân hàng.
10 Theo Bùi Diệu Anh (2013), đã chia nghiệp vụ huy động vốn thành các loại hình sau: Tiền gửi cho thanh toán là một loại nguồn tiền mang tính chất không ổn định. Khách hàng chỉ gửi tiền vào tài khoản thanh toán nhằm chi trả cho các chi phí thông thường như thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, thông qua các loại hình thẻ. Thêm nữa, người dùng có thể dùng tiền gửi này bất kỳ cũng như rút tiền ra khỏi tài khoản một cách dễ dàng. Do vậy mà các ngân hàng khó tiếp cận sử dụng nguồn tiền này để cho vay hoặc đầu tư một cách hiệu quả.
Tiền gửi tiết kiệm là cách huy động truyền thống của các NHTM, bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn nên tiền gửi tiết kiệm là mối bận tâm nhất của các NHTM. Kèm theo sự đi lên của nền kinh tế, cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, vì thế lượng tiền gửi tiết kiệm ngày càng tăng. Hơn thế nữa, các chi nhánh ngân hàng được mỡ rộng nên các ngân hàng đều có chính sách huy động vốn và lãi suất tiền gửi hợp lý thì sẽ thu hút nhiều lượng tiền gửi từ người dân. Qua đó, ngân hàng sẽ có nguồn vốn lâu dài, dồi dào, tăng sức cạnh tranh.
Giấy tờ có giá gồm các loại như là chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu,… Khi lượng tiền gửi không đủ cho mong muốn về vốn thì ngân hàng sẽ phát hành giấy tờ có giá, huy động vốn trung và dài hạn, được tính vào nguồn vốn cấp 2 của ngân hàng (nợ thứ cấp). Tín dụng bán lẻ Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), tín dụng dành cho bán lẻ là nghiệp vụ của tài sản có, là một sản phẩm truyền thống của ngân hàng, cung ứng cho nhóm KHCN và doanh nghiệp vừa và nhỏ các khoản vay gồm thời gian ngắn, trung và dài hạn khác nhau, tùy vào nhu cầu sẽ có các loại hình sản phẩm khác nhau. Cho vay tiêu dùng: khoản vốn ngân hàng tài trợ cho nhu cầu chi tiêu cho cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, quy mô công ty vừa và nhỏ, đồng thời đem lại cho nhóm đối tượng này trang trải các nhu cầu của cuộc sống. Vay sản xuất kinh doanh: nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn nhằm bổ sung vốn còn thiếu trong kinh doanh.
Nguồn vốn vay ngắn hạn chủ yếu dành cho 11 bổ sung vốn lưu động nhằm thanh toán tiền nguyên vật liệu, tiền lương nhân viên, tiền điện hoặc vay vốn trung dài hạn cho máy móc, nhà xưởng. Tín dụng bán lẻ có quy mô nhỏ nhưng rủi ro bù lại thấp. Số lượng khoản vay lớn dẫn đến chi phí như chi phí thẩm định, nhân sự, in ấn hồ sơ,. Dịch vụ thanh toán Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), dịch vụ thanh toán là hình thức được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác.
Ngân hàng cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế bằng cách thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định. Bên cạnh huy động vốn, tín dụng bán lẻ thì dịch vụ thanh toán cũng là nhóm sản phẩm và dịch vụ truyền thống của các NHTM. Nhờ có nền tảng công nghệ cùng với mạng lưới mạng lưới các kênh phát hành được triển khai một cách rộng khắp, dịch vụ thanh toán diễn ra nhanh chóng với đô chính xác và an toàn cao.