Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm liên quan 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng có vị trí quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường ở tất cả các quốc gia. Có nhiều những khái niệm khác nhau về NHTM như: Theo Thomas P.
Fitch, Dictionary of Banking Terms: “Tổ chức ngân hàng, thường là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán sec, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng”[36, tr. Khái niệm về NHTM của Fed và cũng được nhiều nước sử dụng đến ngày nay: “Ngân hàng là bất kỳ doanh nghiệp nào cung cấp khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách ký phát séc hay chuyển tiền điện tử) và cho vay thương mại hay cho vay kinh doanh khác (như cho vay các doanh nghiệp tư nhân để tăng hàng tồn kho hay mua thiết bị mới)” [36, tr. Quốc hội Mỹ đưa ra nhận định: “Ngân hàng là bất kỳ định chế nào tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang” [36, tr. Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [36, tr.Rose, thì: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [30, tr.
9 Luật Ngân hàng của Ấn Độ (1950) bổ sung năm 1959 có quy định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư” [36, tr. Luật Ngân hàng của Đan Mạch (1930) đưa ra một định nghĩa khác: “Ngân hàng là những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…”[36, tr.19] Ở Việt Nam cũng có khá nhiều định nghĩa về ngân hàng Theo điều 1 Pháp lệnh số 38-LCT/HDNN8 về Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ngày 23/05/1990: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”[1]. Theo khoản 3 điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [29]. Tại điều 4 cũng giải thích rõ: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [29].
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tín dụng số 17/2017QH14 ngày 20/11/2017 thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung 10 thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” [29]. Với các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu về NHTM như sau: Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp. Nó có tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính, cơ cấu như một doanh nghiệp. Với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh được đẩy mạnh nhằm tạo ra điều đó.
Tuy nhiên, NHTM cũng một doanh nghiệp rất đặc biệt, bởi vì: - Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng gồm: huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêuidùng, và cunggcấp mọi dịch vụ ngânnhànggkhác, và tùy theo mức độ rủi ro thị trường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các NHTM được phép trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (theo điều 103 Luật các tổ chức tín dụng). Đồng thời, luật cũng khẳng định tính chất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của NHTM. - Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ.trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. - Nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là từ bên ngoài, vốn riêng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh. 11 - Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là "cầu nối" giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Dịch vụ ngân hàng thương mại Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là tài chính tiền tệ- một lĩnh vực lớn chi phối toàn bộ nền kinh tế của một đất nước nên hoạt động ngân hàng rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, về cơ bản Ngân hàng có các hoạt động chủ yếu sau đây: - Huy động vốn: Một ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế. Đồng thời, vốn lớn sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết.
Điều đó sẽ thu-hút nhiều/khách hàng, doanh số hoạt động của NHTM từ đó sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Ngoài ra vốn của|NHTM dồi dào sẽ đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh đầu tư và tiêu dùng của xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện.cho NHNN đảm bảo khả năng thực thi chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, đảm bảo cân đối tiền - hàng trong nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi KKH, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Ngoài ra còn có vay vốn ngắn hạn của các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước, các hình thức huy động khác theo quy định của Nhà nước Việt Nam.
- Hoạt động tín dụng: 12 Đây là hoạt động dịch vụ mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động cho vay tức là giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận. Và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn, gốc, lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng cao hơn.
Trên cơ sở các công cụ thanh toán như: Séc, Ủy nhiệm thu, Ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán,… ngân hàng thực hiện các hoạt động dịch vụ thu, chi hộ khách hàng. Đây là loại hình dịch vụ đang ngày càng phát triển, rất ít rủi ro mang lại nguồn thu nhập khác nhiều hơn cho ngân hàng. Nhưng để phát triển loại hình dịch vụ này, ngân hàng cần chú trọng hơn đến đầu tư, ứng dụng công nghệ, khoa học vào hoạt động ngân hàng. - Các hoạt động khác như: như dịch vụ thu hộ- chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ các tài khoản khác nhau trong cùng hệ thống hay ở hai ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng (các vấn đề tài chính), dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá; dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động.
Đây là những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thực hiện các giao dịch này. Dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Thuật ngữ “Ngân hàng bán lẻ” xuất phát từ gốc trong tiếng anh là “retail banking” và hiện nay, “Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ”, hay“dịch vụ bán lẻ của ngân hàng” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong cung cấp hàng hoá dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh thì Bán lẻ được hiểu là cung cấp các sản phẩm, hàng hóa đến tận tay người tiêu 13 dùng với số lượng nhỏ.
Nó khác với bán buôn là được cung cấp cho người trung gian, cho đại lý phân phối với số lýợng lớn.