phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về d ạ y nghề cho lao động nông thôn Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng d ạ y nghề cho lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2014.
Giải pháp ph á t t r iể n cô ng t á c dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Những vấn đề chung về dạy nghề cho lao động nông thôn 1.1 Khái niệm về nông thôn Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn. Các nhà xã hội học đã đƣa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị nhƣ: thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân cƣ, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cƣờng độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội … Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị đƣợc phản ánh rõ nét trong những nguyên lý của xã hội học nông thôn - đô thị. Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trƣờng, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hƣớng di cƣ, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tƣơng tác trong từng vùng.
Nhƣ vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tƣơng đối, thay đổi theo không gian, thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở nƣớc ta, nhìn nhận dƣới góc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cƣ dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cƣ dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trƣờng trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hƣởng của các tổ chức khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.Tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị Tiêu chí Khu vực nông thôn Khu vực thành thị Nghề nghiệp Những ngƣời sản xuất Những ngƣời sản xuất nông nghiệp, một số ít công nghiệp, dịch vụ.
phi nông nghiệp. Môi trƣờng Môi trƣờng tự nhiên, ƣu Môi trƣờng nhân tạo ƣu trội, quan hệ trực tiếp trội, ít dựa vào tự nhiên. với tự nhiên. Kích cỡ cộng đồng Cộng đồng làng bản nhỏ, Kích cỡ cộng đồng lớn văn minh nông nghiệp hơn, văn minh công nghiệp Mật độ dân số Mật độ dân số thấp, tính Mật độ dân số cao, tính nông thôn tƣơng phản đô thị và mật độ dân số với mật độ dân số.
tƣơng ứng với nhau Đặc điểm cộng đồng Cộng đồng thuần nhất Không đồng nhất về hơn về các đặc điểm chủng tộc và tâm lý chủng tộc và tâm lý Phân tầng xã hội Sự khác biệt và phân Sự khác biệt và phân tầng xã hội ít hơn so với tầng xã hội ít hơn so với đô thị nông thôn Di động xã hội Di động xã hội theo Cƣờng độ di động lớn lãnh thổ, theo nghề hơn, có biến động xã hội nghiệp không lớn, di cƣ mới, có di cƣ từ thành thị cá nhân nông thôn ra về nông thôn. thành thị Tác động xã hội Tác động xã hội tới từng Tác động xã hội tới từng cá nhân thấp hơn. Quan cá nhân lớn hơn. Quan hệ xã hội sơ cấp, láng hệ xã hội thứ cấp, phức giềng, huyết thống tạp, hình thức hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ) Qua nghiên cứu theo tiêu chí tại Bảng 1.1 có thể khẳng định, nông thôn có những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: - Ở vùng nông thôn, các cƣ dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngƣ nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dich vụ phi nông nghiệp. - Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trƣờng sinh thái. Các vùng nông thôn quản lý một lƣợng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nƣớc, rừng, sông suối, hồ ao, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và do con ngƣời tạo ra. - Cƣ dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình.
- Nông thôn lƣu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa quốc gia nhƣ phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lề hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh. Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi ngƣời. Tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, ở Việt Nam chia ra: nông thôn miền núi, nông thôn miền trung du, nông thôn đồng bằng, nông thôn vùng ven biển. Từ đó, có sự khác biệt về nhận thức, về truyền thống, về văn hóa làng bản.
của nông thôn từng vùng có sự khác nhau.2 Vai trò của nông thôn Một là, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lƣơng thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội. Ngƣời nông dân ở nông thôn sản xuất lƣơng thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho cả cộng đồng. Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lƣơng thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 góp phần đáp ứng nhu cầu lƣơng thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia.
Hai là, với trên 70% số dân sống bằng nông nghiệp, khu vực nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị. Sự thâm nhập của lao động vào thành thị cũng nhƣ sự gia tăng dân số đều đặn ở các vùng thành thị là không đủ để đáp nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc gia. Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị hạn chế thì sự tăng trƣởng sẽ bị ảnh hƣởng và việc phát triển kinh tế sẽ phiến diện. Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế của quốc gia.
Ba là, nông thôn là thị trƣờng quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại. Trƣớc hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp. Nếu thị trƣờng rộng lớn ở nông thôn đƣợc khai thông, thu nhập ngƣời dân nông thôn đƣợc nâng cao, sức mua của ngƣời dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp. Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội.
Bốn là, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau. Mỗi sự biến động dù tích cực hay tiêu cực đều sẽ ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an sinh quốc phòng của cả nƣớc. Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nƣớc. Năm là, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển.
Nên nông thôn có ảnh hƣởng to lớn đến việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Sáu là, nông thôn còn là nơi có cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng mang tính truyền thống, là nơi nghỉ ngơi, an dƣỡng, nâng cao tuổi thọ và sức khỏe con ngƣời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.3 Quan hệ của nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con ngƣời phải dựa vào quy luật sinh trƣởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm nhƣ lƣơng thực, thực phẩm … để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngƣ nghiệp.
Nhƣ vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập, phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Ở các nƣớc nghèo, nông nghiệp thƣờng chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động trong xã hội. Nông dân là những ngƣời lao động cƣ trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vƣờn, sau đó đến các ngành nghề mà tƣ liệu sản xuất chính là đất đai.
Tùy từng quốc gia, từng tời kỳ lịch sử, ngƣời nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, đƣợc tổ chức chặt chẽ. Nhìn chung, nông dân là những ngƣời nghèo, bị phụ thuộc vào các tầng lớp trên.
Ngƣời nông dân lao động nặng nhọc nhƣng hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp. Trong xã hội nông thôn, nông dân là chủ thể chính, sinh sống bằng nông nghiệp, tạo ra quần thể nông thôn rộng lớn, vừa đa dạng, vừa phức tạp. Ở Việt nam, giải quyết có hiệu quả mối quan hệ nông nghiệp, nông dân và nông thôn sẽ góp phần cực kỳ quan trọng vào sự ổn định và phát triển của xã hội. Do vậy, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TƢ “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, đây là sự ghi nhận xứng đáng và thể hiện sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nƣớc ta.