Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nguồn nhân lực công nhân giữ vai trò nòng cốt quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2014, chất lượng lao động Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang điểm 10, xếp thứ 11 trên 12 quốc gia châu Á tham gia khảo sát. Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế cũng chỉ ra năng suất lao động của công nhân Việt Nam thuộc nhóm thấp trong khu vực, chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo trên cả nước chỉ dao động từ 30% đến 35%.

Tại tỉnh An Giang, lực lượng công nhân tại các khu công nghiệp ghi nhận bước phát triển nhảy vọt về số lượng, tăng từ 600 lao động năm 2018 lên 13.366 công nhân tại 25 doanh nghiệp vào năm 2021. Tuy nhiên, phần lớn lực lượng này là lao động chuyển dịch trực tiếp từ khu vực nông nghiệp nông thôn, chủ yếu làm các công việc gia công đơn giản, thiếu tác phong công nghiệp và kỹ năng chuyên môn kỹ thuật cao. Đời sống vật chất của người lao động còn nhiều bấp bênh với mức lương cơ bản bình quân chỉ đạt khoảng 4,5 triệu đồng mỗi tháng.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ công nhân tại 3 khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh An Giang gồm Khu công nghiệp Bình Hòa, Khu công nghiệp Bình Long và Khu công nghiệp Xuân Tô giai đoạn 2015 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các luận cứ khoa học và giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện mức thu nhập, hoàn thiện các thiết chế phúc lợi xã hội và thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, bền vững trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân, khẳng định đây là lực lượng tiên phong gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại và là hạt nhân của khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức. Đồng thời, đề tài quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, Chỉ thị số 22-CT/TW và Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Khung phân tích chính sách vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của các học giả như Thomas Dye, B. Guy Peters, Mazmanian và Sabatier, cùng mô hình 4 khả năng thực thi chính sách của Wayne Hayes. Quá trình triển khai chính sách được xem xét qua 6 giai đoạn luân chuyển khép kín từ xác định vấn đề, hoạch định, thông qua, tổ chức thực thi đến đánh giá và điều chỉnh. Hệ thống khái niệm công cụ cốt lõi bao gồm: chính sách công, thực thi chính sách công, đội ngũ công nhân khu công nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và an toàn vệ sinh lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Ban Quản lý Khu kinh tế, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy An Giang.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 350 công nhân lao động và 25 cán bộ quản lý doanh nghiệp, cán bộ công đoàn cơ sở tại 3 khu công nghiệp Bình Hòa, Bình Long và Xuân Tô. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm ngành sản xuất chủ lực gồm may mặc, da giày, chế biến thủy sản và cơ khí.

Các phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu và quy nạp logic. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu về thu nhập, học vấn, điều kiện an toàn lao động, đồng thời liên kết dữ liệu thực nghiệm với khung lý thuyết thực thi chính sách để giải thích nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế tồn tại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đội ngũ công nhân tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng chuyên môn còn nhiều khoảng trống. Số lượng công nhân tại các khu công nghiệp An Giang tăng hơn 22 lần từ 600 người năm 2018 lên 13.366 người năm 2021 tại 25 doanh nghiệp. Tuy nhiên, hơn 75% lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo kỹ thuật chính quy, tập trung chủ yếu ở ngành may mặc, da giày và chế biến thủy sản. Khu công nghiệp Bình Hòa dẫn đầu về quy mô với 14 dự án đang hoạt động và 10.898 công nhân (chiếm 81,5% tổng số lao động khu công nghiệp toàn tỉnh), trong khi Khu công nghiệp Bình Long thu hút trên 1.300 lao động tại 9 dự án hoạt động.

Thứ hai, thu nhập và đời sống vật chất của công nhân còn nhiều áp lực. Mức lương cơ bản bình quân của người lao động đạt khoảng 4,5 triệu đồng mỗi tháng, tổng thu nhập bình quân đạt khoảng 5,0 triệu đồng mỗi tháng. Cơ cấu thu nhập cho thấy lương cơ bản chiếm từ 70% đến 74%, còn lại 26% đến 30% là các khoản phụ cấp như chuyên cần, ăn ca, tiền nhà trọ và hỗ trợ con nhỏ. Chỉ có khoảng 10% công nhân được khảo sát cho biết có khả năng tích lũy tài chính. Lực lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo với hơn 9.000 người (trên 67% tổng số công nhân), thường xuyên chịu áp lực làm thêm giờ và gánh nặng kinh tế gia đình.

Thứ ba, các thiết chế an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực bước đầu. Tỉnh An Giang đã đầu tư trên 14 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Công đoàn tại Khu công nghiệp Bình Hòa với quy mô 2 tầng, 10 phòng học, phục vụ khoảng 350 con em đoàn viên với chính sách giảm tối thiểu 10% học phí. Dự án nhà ở xã hội quy mô 600 căn trên diện tích 26.000 m2 tại Khu công nghiệp Bình Hòa đã được triển khai, cùng với 100 khu nhà tập thể và 108 căn hộ chung cư trả chậm do các doanh nghiệp phối hợp xây dựng. Về đời sống tinh thần, tỉnh đã đầu tư 02 sân bóng đá nhân tạo và 02 sân bóng chuyền theo Đề án 163 của Liên đoàn Lao động tỉnh.

Thứ tư, công tác bảo hộ và an toàn lao động còn tiềm ẩn rủi ro. Toàn tỉnh đã thành lập 25 Hội đồng bảo hộ lao động với 294 thành viên và mạng lưới 1.860 an toàn vệ sinh viên tại 25 doanh nghiệp, trong đó 67,8% đã được tập huấn chuyên môn. Tuy nhiên, giai đoạn 2015 - 2020 vẫn ghi nhận 05 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng tại 05 doanh nghiệp làm 03 người tử vong. Hiện tượng nợ đọng bảo hiểm xã hội, vi phạm quy chuẩn an toàn và hình thức thỏa ước lao động tập thể chưa thực chất vẫn còn tồn tại ở một số doanh nghiệp chế biến thủy sản.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh một nghịch lý phổ biến trong giai đoạn đầu thu hút đầu tư: sự gia tăng cơ học về số lượng dự án và việc làm chưa đi liền với sự nâng cao bền vững về chất lượng nguồn nhân lực. Nguyên nhân chính là do đa số doanh nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất trung bình, sử dụng công nghệ thâm dụng lao động gia công giá trị thấp. Các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chưa ban hành được đề án đào tạo nghề chuyên biệt dài hạn cho công nhân khu công nghiệp. Nhận thức của công nhân về tự học tập nâng cao tay nghề còn hạn chế do áp lực mưu sinh thường nhật.

So sánh với các nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2012 và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2016, thực trạng tại An Giang phản ánh đầy đủ các đặc trưng của đời sống công nhân di cư vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt trình bày dữ liệu, các kết quả phân tích có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng tổng hợp hiện trạng lao động phân theo 3 khu công nghiệp và biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu thu nhập với tỷ trọng lương cơ bản chiếm 70% - 74% so với 26% - 30% phụ cấp, cùng biểu đồ cột thể hiện mức độ đáp ứng của các thiết chế trường mầm non và nhà ở xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần chỉ đạo 29 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn mở rộng mô hình đặt hàng đào tạo ba bên giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật trong các khu công nghiệp đạt trên 50% vào năm 2025 và 65% vào năm 2030, bình quân mỗi năm đào tạo nâng bậc tay nghề cho ít nhất 2.000 công nhân.

Thứ hai, đẩy mạnh hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, nhà ở và thu nhập. Ban Quản lý Khu kinh tế phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh An Giang tăng cường giám sát thực hiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng, định kỳ rà soát quy chế trả lương và thưởng của doanh nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện 600 căn hộ thuộc dự án nhà ở xã hội tại Khu công nghiệp Bình Hòa giai đoạn 2022 - 2025, phấn đấu giải quyết nhu cầu chỗ ở ổn định cho tối thiểu 30% công nhân có hoàn cảnh khó khăn và công nhân ngoại tỉnh.

Thứ ba, siết chặt kỷ cương quản lý an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bảo hiểm Xã hội tỉnh tổ chức thanh tra chuyên đề định kỳ 100% doanh nghiệp có nguy cơ cao về an toàn lao động trong ngành may mặc và thủy sản. Kiên quyết xử lý triệt để tình trạng trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội, xóa bỏ các vi phạm nguyên tắc an toàn, hướng tới mục tiêu giảm 100% số vụ tai nạn lao động chết người từ năm 2024.

Thứ tư, củng cố hoạt động công đoàn và phát triển đời sống văn hóa tinh thần. Liên đoàn Lao động tỉnh và Đảng ủy khối doanh nghiệp cần nâng tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể thực chất với các điều khoản có lợi cho lao động nữ lên trên 95% trước năm 2025. Duy trì tổ chức định kỳ các hội thao, hội diễn văn nghệ và nhân rộng mô hình Tổ tự quản công nhân nhà trọ, đồng thời phấn đấu nâng tỷ lệ kết nạp đảng viên mới từ đội ngũ công nhân ưu tú đạt tối thiểu 5% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý Khu kinh tế: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và hệ thống dữ liệu chi tiết về 3 khu công nghiệp tại An Giang, hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế quản lý lao động cấp tỉnh.

Nhóm tổ chức Công đoàn và đoàn thể chính trị - xã hội: Nghiên cứu mang lại các bài học thực tiễn về xây dựng thiết chế trường mầm non công đoàn, khu nhà ở xã hội và mô hình tự quản khu nhà trọ, làm căn cứ nhân rộng các sáng kiến bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chăm lo đời sống tinh thần cho đoàn viên.

Nhóm ban lãnh đạo và chuyên viên nhân sự tại các doanh nghiệp: Tài liệu hỗ trợ các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thiết kế thang bảng lương khoa học, hoàn thiện thỏa ước lao động tập thể, xây dựng mạng lưới an toàn vệ sinh viên và tổ chức các chương trình đào tạo nghề tại chỗ nhằm giảm tỷ lệ luân chuyển lao động.

Nhóm giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu học thuật: Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Xã hội học lao động, cung cấp phương pháp tiếp cận chu trình chính sách trong việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Đội ngũ công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh An Giang có đặc điểm nổi bật nào? Lực lượng công nhân tại An Giang có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng, đạt 13.366 người tại 25 doanh nghiệp vào năm 2021. Phần lớn công nhân chuyển dịch từ nông dân sang, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa cao. Đáng chú ý, lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo với hơn 9.000 người, tương đương trên 67% tổng số công nhân toàn tỉnh.

Thực trạng thu nhập và chi tiêu của công nhân tại các khu công nghiệp An Giang hiện nay như thế nào? Mức lương cơ bản bình quân của công nhân đạt khoảng 4,5 triệu đồng mỗi tháng và tổng thu nhập bình quân khoảng 5,0 triệu đồng mỗi tháng. Tiền lương chiếm khoảng 70% đến 74% tổng thu nhập. Do chi phí sinh hoạt, thuê trọ và nuôi con nhỏ cao, chỉ có khoảng 10% công nhân có khả năng tích lũy tài chính từ thu nhập hàng tháng.

Tỉnh An Giang đã triển khai những mô hình thiết chế xã hội tiêu biểu nào cho người lao động? Tỉnh đã khánh thành Trường Mầm non Công đoàn tại Khu công nghiệp Bình Hòa với kinh phí hơn 14 tỷ đồng phục vụ khoảng 350 trẻ nhỏ, đồng thời triển khai dự án 600 căn hộ nhà ở xã hội trên diện tích 26.000 m2 và hoàn thiện hệ thống sân bóng đá, bóng chuyền theo Đề án 163 của Công đoàn.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ tai nạn lao động tại các khu công nghiệp là gì? Trong giai đoạn 2015 - 2020 xảy ra 05 vụ tai nạn lao động làm 03 người tử vong. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc một số doanh nghiệp vi phạm nguyên tắc ba không: không xây dựng quy trình an toàn, không huấn luyện đầy đủ và không trang bị phương tiện bảo hộ đạt chuẩn, kết hợp với việc cán bộ an toàn lao động chủ yếu làm việc kiêm nhiệm.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao chất lượng chuyên môn cho công nhân An Giang? Giải pháp trọng tâm là xây dựng cơ chế phối hợp ba bên giữa nhà nước, doanh nghiệp và 29 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong tỉnh theo đơn đặt hàng thực tế, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 50% vào năm 2025 và 65% vào năm 2030.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vị trí trung tâm của đội ngũ 13.366 công nhân tại các khu công nghiệp đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa tỉnh An Giang.
  • Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn về trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, mức thu nhập trung bình 4,5 đến 5,0 triệu đồng mỗi tháng và gánh nặng an sinh của hơn 9.000 lao động nữ.
  • Đánh giá khách quan các thành tựu thực thi chính sách giai đoạn 2015 - 2020 thông qua công trình mầm non 14 tỷ đồng, dự án nhà ở xã hội 600 căn và mạng lưới 1.860 an toàn vệ sinh viên.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao quát toàn diện các trụ cột: đào tạo nghề, cải thiện thu nhập và nhà ở, siết chặt an toàn lao động và phát triển thiết chế văn hóa.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể nhằm chuẩn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của lực lượng lao động địa phương giai đoạn 2022 - 2025 và tầm nhìn 2030.

Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là xây dựng hệ thống luận cứ thực chứng và khung phân tích chính sách công chuyên sâu về phát triển giai cấp công nhân cấp tỉnh, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thực tế tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các cơ quan quản lý, hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các khuyến nghị nêu trên để xây dựng đội ngũ công nhân An Giang vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.