CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY VÀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay và phân loại cho vay a. Khái niệm cho vay Trên thực tế có nhiều khái niệm về cho vay, cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.
Nói cách khác, cho vay là quyền của Ngân hàng thương mại, với tư cách là người cho vay yêu cầu khách hàng của mình - người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định. Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tóm lại, theo sách Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, năm 2008 của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Mùi thì “Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận” [4, tr. Phân loại cho vay Kinh tế thị trường càng phát triển, xu hướng tự do hóa càng sâu sắc thì các Ngân hàng càng phải nghiên cứu đưa ra các hình thức cho vay và đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh. Chính vì vậy, các Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại cho vay cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau. Có nhiều tiêu chí phân loại cho vay. Tuy nhiên trên thực tế phân loại cho vay thường theo các tiêu chí sau + Phân loại theo thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình.
Đây là loại cho vay có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại cho vay khác. - Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài, nên cho vay dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án.
Nhìn chung cho vay dài hạn thường chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài thì những biến động không dự tính có thể xảy ra càng lớn. Luan van 8 + Phân loại theo bảo đảm tiền vay - Cho vay bảo đảm bằng tài sản: Là cho vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản bảo đảm hoặc phải có người bảo lãnh. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
- Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: Là cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại cho vay này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao. + Phân loại theo mục đích cho vay - Cho vay nông nghiệp: Là các khoản cho vay cấp cho hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Cho vay công thương nghiệp: Đây là các khoản cho vay cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân để trang trải chi phí mua hàng hóa, nguyên vật liệu.
- Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay cung cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để mua sắm như: Nhà ở, đất ở, xe hơi, trang thiết bị trong nhà. + Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay - Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau. Loại cho vay này áp dụng đối với những khoản vay có thời hạn trung và dài hạn. - Cho vay hoàn trả một lần: Là loại cho vay mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn.
Loại cho vay này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: Là loại cho vay mà khách hàng có thể Luan van 9 hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại cho vay này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng. + Phân loại theo xuất xứ cho vay - Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua trung gian như: cho vay thông qua các tổ chức, đoàn thể. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng (CVTD) là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp cho những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ.Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch.cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng [1, tr. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng a.
Giá trị mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các món vay nhiều Các hộ gia đình, cá nhân đến Ngân hàng cần vay vốn tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không cao, vì nhu cầu của người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa xa xỉ không lớn hoặc họ đã có tích lũy từ trước đối với những tài sản có giá trị lớn. Mặt khác, cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao hơn nên Ngân hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ của khách hàng. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi gia đình, cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp có nhu cầu phong phú và đa dạng. Hơn nữa khi chất lượng cuộc sống được nâng lên thì người dân càng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng để cải thiện đời sống.
Do đó nền kinh tế càng phát Luan van 10 triển thì cho vay tiêu dùng càng nhiều. Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn Do CVTD với số lượng nhiều, nhưng giá trị mỗi khoản vay lại nhỏ nên Ngân hàng phải cần nhiều nhân lực để phục vụ cho hoạt động cho vay, từ bước tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ, quyết định cho vay, giải ngân cũng như theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và thu hồi nợ. Vì đối với một món vay dù lớn hay nhỏ thì các bước thẩm định trước, trong và sau khi cho vay đều giống nhau, chi phí giấy tờ về hồ sơ vay vốn như nhau.Hơn nữa Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản vay tiêu dùng do thông tin về tình hình tài chính chưa rõ ràng, công khai minh bạch như ở các công ty lớn. Thông thường thông tin để thẩm định cho vay tiêu dùng thì cán bộ ngân hàng phải tự tìm hiểu, điều tra, đối chiếu tính chính xác.
Vì vậy với những nguyên nhân trên nên dẫn đến chi phí cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với các loại hình cho vay khác. Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao Vì đối tượng của CVTD là các hộ gia đình, cá nhân nên hoạt động này không chỉ chịu bởi các yếu tố chủ quan của người tiêu dùng mà còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan từ bên ngoài, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này cụ thể như sau: - Thông tin của hộ gia đình và cá nhân không đầy đủ và rõ ràng như thông tin của các doanh nghiệp do thông tin của các doanh nghiệp đều thể hiện trên báo cáo tài chính. Do đó dễ dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro bất đối xứng thông tin. Vì vậy các cá nhân trốn tránh việc trả nợ mặc dù họ có khả năng thanh toán nên chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao [1, tr.
- Khi cho vay Ngân hàng thẩm định nguồn trả nợ từ thu nhập ổn định hàng tháng tại thời điểm hiện tại của người vay. Tuy nhiên trong tương lai Luan van 11 người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng thì Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ, đây là rủi ro khó lường trước. - Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế.