CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay Khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Cho vay KHCN trong ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay là cá nhân, trong đó Ngân hàng (hoặc TCTD) giao hoặc cam kết giao cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng với mục đích và thời gian vay nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho Ngân hàng (hoặc TCTD) (Hồ Diệu, 2003). Đặc điểm cho vay Khách hàng cá nhân Theo Phạm Thị Phương Thanh (2022), Hoạt động cho vay KHCN có những đặc điểm riêng biệt như sau: - Số lượng các khoản vay tuy lớn nhưng quy mô khoản vay thường nhỏ, với mục đích vay của KHCN chủ yếu như sau: + Bổ sung vốn kinh doanh.
Thường quy mô của các hoạt động sản xuất kinh doanh này không lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng đã có phần vốn tự có nhất định nên chỉ cần bổ sung phần vốn nhỏ còn thiếu và mang tính ngắn hạn. + Khoản vay cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày bao gồm các mục đích như mua nhà, xe, sắm sửa vật dụng gia đình, xây dựng hoặc sửa chữa nhà, và du học. Mặc dù các khoản vay này thường có giá trị nhỏ nhưng nhu cầu vay lại rất đa dạng và phong phú do đối tượng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ người có thu nhập cao, trung bình đến thấp. - Cho vay KHCN gây tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của khách hàng cá nhân với số lượng lớn và phân tán rộng, ngân hàng phải chịu nhiều chi phí cho việc mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, và tiếp thị để tiếp cận khách hàng ở từng địa bàn và khu vực.
Bên cạnh đó, việc phát triển nhân sự để phục vụ khách hàng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ, và các chi phí quản lý khác như văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ cũng góp phần làm tăng chi phí. Do đó, lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. Hơn nữa, việc xác minh thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng cá nhân thường gặp khó khăn và tốn kém hơn, dẫn đến chi phí thẩm định và xét duyệt vay cao hơn. 5 - Cho vay KHCN rủi ro cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp Ngoài những rủi ro chung của cho vay ngân hàng, các khoản vay cá nhân còn đối mặt với những rủi ro đặc thù từ chính bản thân khách hàng.
Điều kiện tài chính của cá nhân hoặc hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi một cách nhanh chóng do các yếu tố như bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, hoặc các bi kịch gia đình. - Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao Khi thẩm định cho vay, thông tin về khách hàng là yếu tố cực kỳ quan trọng bên cạnh tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ, và tài sản đảm bảo. Đối với khách hàng là tổ chức, việc thu thập thông tin thường thuận lợi nhờ vào các nguồn công khai như báo cáo tài chính, thông tin từ hệ thống tín dụng, tình hình nộp thuế, và uy tín quan hệ với đối tác. Ngược lại, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng cá nhân thường khó khăn hơn, dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng và rủi ro trong việc thẩm định chính xác.
- KHCN chịu trách nhiệm vô hạn trên số tiền vay Đối với khách hàng doanh nghiệp (ngoại trừ doanh nghiệp tư nhân), khi gặp biến cố như phá sản hoặc giải thể, họ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ đã đăng ký. Điều này có thể dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được nợ nếu nguồn vốn của doanh nghiệp không đủ. Ngược lại, khách hàng cá nhân phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các chủ nợ, bao gồm cả ngân hàng, trong trường hợp xảy ra biến cố. Phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm phát triển cho vay Khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Theo Bách khoa toàn thư mở: Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn. Ở đây, phát triển được xem là một quá trình vận động đi lên.
Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lê Nin, (2005) cho rằng phát triển là nhằm mở rộng quy mô sản xuất nhưng không làm tăng năng suất lao động (phát triển theo chiều rộng) và phát triển nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng (phát triển theo chiều sâu). 6 Đặc điểm của phát triển theo chiều rộng: (i) Lấy tăng trưởng về số lượng “làm mục tiêu đầu tư, mà không làm thay đổi chất lượng sản phẩm, năng suất lao động hay giá thành sản phẩm, (ii) Tốc độ tăng lao động lớn hơn tốc độ tăng vốn, (iii) Chi phí lao động, chi phí nguyên liệu đầu vào có thể tăng nhưng không làm tăng năng suất lao động, (iv)Thời gian chuẩn bị đầu tư ngắn, vốn đầu tư không quá lớn. Đặc điểm phát triển theo chiều sâu: (i) Lấy hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng suất lao động làm động lực trực tiếp, làm mục tiêu của các hoạt động đầu tư, (ii) Phát triển theo chiều sâu thường dẫn đến giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động và nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn, (iii)Tốc độ tăng lao động nhỏ hơn tốc độ tăng vốn, (iv) Thời gian chuẩn bị đầu tư dài, (v) Phát triển theo chiều sâu và đổi mới công nghệ có quan hệ mật thiết, hữu cơ, và luôn luôn đi liền với nhau. Phát triển theo chiều sâu là yếu tố quyết định đổi mới công nghệ, tạo điều kiện và khả năng cho đổi mới công nghệ.
Đổi mới công nghệ là phương thức tiến hành hoạt động phát triển theo chiều sâu có hiệu quả. Từ những quan điểm như trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có thể hiểu: Phát triển cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại là gia tăng quy mô, số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu của cho vay KHCN đã có, đồng thời phát triển thêm và cân đối cơ cấu cho vay KHCN mới. Nói cách khác, phát triển cho vay KHCN là sự gia tăng về quy mô dư nợ, số lượng khách hàng, cơ cấu các sản phẩm tín dụng KHCN cung cấp, mạng lưới hoạt động và các tiện ích của sản phẩm, bên cạnh đó nâng cao chất lượng của từng loại hình cho vay nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của các khách hàng. Khái niệm chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Chất lượng cho vay khách hàng cá nhân là sự đáp ứng các yêu cầu hợp lý của khách hàng cá nhân có lựa chọn, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Nói cách khác, chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng đối với sự phát triển của môi trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Nói cụ thể hơn, chất lượng cho vay chính là chất lượng các món vay, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được khách hàng sử dụng có mục đích, phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận, có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội. 7 Dựa vào lợi ích các bên tham gia trong quan hệ tín dụng, có thể xem xét khái niệm chất lượng cho vay khách hàng cá nhân trên ba khía cạnh: - Đối với khách hàng: Cho vay phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất, kỳ hạn nợ hợp lý. Thủ tục giản đơn thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. - Đối với ngân hàng thương mại: Phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi của tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng. Nội dung phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại - Nghiên cứu và phân tích thị trường về cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại Thị trường mục tiêu, hay còn gọi là Target Market, là phân khúc chứa một tỷ lệ lớn khách hàng tiềm năng, phù hợp với sản phẩm cho vay KHCN và định hướng của Ngân hàng thương mại. Để tối ưu hóa sự thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong phân khúc này, ngân hàng cần triển khai các chiến lược cụ thể nhằm kích thích việc sử dụng sản phẩm.
Mục tiêu là chuyển đổi những khách hàng tiềm năng thành khách hàng trung thành, từ đó tạo ra doanh thu cho ngân hàng. Thông qua nghiên cứu thị trường, các ngân hàng sẽ thiết kế các sản phẩm cho vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng trong thị trường mục tiêu. Ngân hàng cần phát triển và quản lý danh mục sản phẩm cho vay một cách hiệu quả, dựa trên các nhóm sản phẩm khác nhau và quyết định loại sản phẩm nào sẽ được cung cấp ra thị trường. Các ngân hàng thường căn cứ vào tiềm năng của mình, nhu cầu của khách hàng và chu kỳ của sản phẩm cho vay để quyết định giữ lại hoặc loại bỏ một sản phẩm đó khỏi danh mục.