Chương 1: Lý luận chung về cho vay khách hàng cá nhân và phát triển trong cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) – Chi nhánh Láng Hạ - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) – Chi nhánh Láng Hạ 5 CHƢƠNG L LUẬN CHUNG VỀ CHO V HCN V PH T TRIỂN TRONG CHO V HCN CỦ NG N H NG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất.
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng (2010), “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khách hàng vay vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân và hộ gia đình, trong đó khách hàng là cá nhân và hộ gia đình là bộ phận đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bởi khách hàng chính là những người cung cấp đầu vào cho ngân hàng và họ cũng chính là người sử dụng sản phẩm đầu ra của ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Đặc điểm cho vay cá nhân 1.
Quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn Quy mô khoản vay nhỏ bởi cho vay cá nhân thường phục vụ hai mục đích chủ yếu sau: - Thứ nhất, cá nhân vay vốn để đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống, tiêu dùng hàng ngày. Khoản vay này phục vụ trực tiếp cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng/sửa chữa nhà, vay du học,. 6 - Thứ hai, cá nhân, hộ gia đình vay với mục đích để bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, kinh doanh sản xuất hộ cá thể. Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận với quy mô nhỏ.
Số lượng các khoản vay lớn: Số tiền cho vay hai mục đích trên đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn là do hai nguyên nhân sau: - Số lượng khách hàng cá nhân đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. - Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân. Vì khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống.
Rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân Các khoản cho vay cá nhân thường có rủi ro cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp do các khoản cho vay doanh nghiệp hiện nay thường có lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, trong khi các khoản cho vay cá nhân lại phải chịu rủi ro lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên, vì vậy, lãi suất đối với các khoản cho vay cá nhân thường cao hơn so với lãi suất của các khoản cho vay trong các lĩnh vực doanh nghiệp. Chính vì thế, ngoài rủi ro chính là rủi ro lãi suất thì trong cho vay khách hàng cá nhân còn tồn tại một số loại rủi ro sau: - Rủi ro thông tin bất cân xứng: Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi là do có nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín thanh toán với các tổ chức tín dụng khác,. Ngược lại đối với khách hàng cá nhân, việc đánh giá nhân thân, nguồn 7 trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác.
Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng. - Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn vì vậy để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của nhân viên phân tích tín dụng. Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, nhân viên thường hay chủ quan thẩm định sơ sài hoặc thậm chí thông đồng với khách hàng gây rủi ro cho ngân hàng.
Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trường hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng nhưng không có ý chí trả nợ vay trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ. Hồ sơ vay vốn đơn giản và gọn nhẹ hơn so với các khoản cho vay khác Xuất phát từ thực tế KHCN không có hệ thống báo cáo tài chính chuẩn mực, mua bán hàng hóa hay công nợ. Do đó, việc yêu cầu KHCN cung cấp các tài liệu chứng minh nguồn nguyên liệu, thị trường,.
là rất khó bởi quá trình mua bán hàng hóa giữa các cá nhân chủ yếu dựa vào niềm tin, thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt, rất ít khi ký hợp đồng hay xuất hóa đơn giá trị gia tăng, dó đó, lượng hồ sơ, các giấy tờ pháp lý của các KHCN ít hơn, công tác thẩm định và đánh giá diễn ra nhanh gọn hơn, thời gian giải ngân ngắn. Song điều này dẫn đến việc ngân hàng thường yêu 8 cầu cao hơn về mặt tài sản đảm bảo và mức cho vay thấp hơn đối với KHCN để hạn chế các rủi ro phát sinh. Cho vay khách hàng cá nhân tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng. Vì vậy, để có thể duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều loại chi phí như: - Chi phí mở rộng hệ thống mạng lưới hoạt động, chi phí quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực.
- Chi phí phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. - Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên,. Lãi suất cho vay thường cao hơn so với cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng có rủi ro cao nhất trong các danh mục cho vay của ngân hàng, các rủi ro này thường phát sinh trong quá trình tác nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Để lý giải cho điều này, có thể kể đến 3 nguyên nhân sau: + Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế.
+ Trong quá trình vay vốn, người tiêu dùng thường kém nhạy cảm hơn so với lãi suất, mối quan tâm chính của khách hàng đó là lượng tiền mà họ phải trả hàng tháng chứ không phải lãi suất. Khách hàng có thu nhập và trình độ học vấn cao có xu hướng vay tiêu dùng nhiều hơn. + Ngoài ra, nhiều khoản cho vay KHCN cộng lại mới bằng một khoản cho vay đối với các KHDN trong khi chi phí bỏ ra cho công tác thẩm định và quản lý lại rất lớn. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân 1.
Phân loại theo thời gian cho vay Căn cứ vào thời gian cho vay, các NHTM thường chia hoạt động tín dụng ra làm 3 loại sau: - Cho vay ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là kinh doanh tiền gửi, thông thường với các khoản tiền gửi ngắn hạn thì các NHTM thường thực hiện tài trợ các khoản tín dụng ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh toán. Phần lớn các khoản tín dụng ngắn hạn được cho vay đề bù đắp nguồn vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng. - Cho vay trung hạn: Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tùy thuộc vào quy định của từng nước mà thời hạn để phân loại tín dụng trung hạn khác nhau, theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam, tín dụng trung hạn là khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.