CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về DNVVN Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế được đăng kí pháp luật, có tài sản, có tên riêng, có trụ sở giao dịch thường xuyên và được thành lập với mục đích đạt được lợi nhuận thông qua hoạt động kinh doanh. Trong những lĩnh vực khác nhau, dựa theo hệ thống tiêu chí định sẵn, một nhóm các doanh nghiệp phù hợp sẽ được phân vào thành phần DNVVN.
Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm DNVVN cụ thể, mà chỉ quy định những tiêu chí nhằm xác định DNVVN trong Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP, được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây: Bảng tiêu chí xác định và phân loại DNVVN theo Điều 6, Nghị định Quy Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa mô Doanh Doanh Doanh Lĩnh Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Tổng thu thu thu vực động số vốn động số vốn động số vốn năm năm năm Không Không Không Không Không Không Không Không Không Nông hơn hơn hơn hơn hơn 10 hơn 3 hơn 3 hơn 20 hơn 20 nghiệp 100 200 200 tỷ 100 tỷ người tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng người người đồng đồng Không Không Không Không Không Không Không Không Không Công hơn hơn hơn hơn hơn 10 hơn 3 hơn 3 hơn 20 hơn 20 nghiệp 100 200 200 tỷ 100 tỷ người tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng người người đồng đồng Không Không Không Không Không Không Không Không Không Dịch hơn hơn hơn hơn tỷ hơn 10 hơn 10 hơn 3 hơn 50 hơn 50 vụ 100 tỷ 100 300 tỷ 100 người tỷ đồng tỷ đồng người tỷ đồng đồng người đồng đồng 39/2018/NĐ-CP 6 1. Các đặc điểm chính của DNVVN Ngoài việc mang những đặc tính chung, đồng nhất và phổ quát của một doanh nghiệp, khối các DNVVN tại Việt Nam còn có những đặc điểm riêng rẽ và dễ phân biệt. Cụ thể, danh sách các đặc điểm đó bao gồm: Về nguồn nhân lực, hầu hết các DNVVN có lực lượng nhân sự mỏng, trình độ tay nghề còn thấp và không có tính kỷ luật cao. Nguyên nhân là do những DN nhóm này thường xuyên tuyển dụng lao động phổ thông địa phương giá rẻ, mà lại không hay tổ chức thêm các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ cán bộ nhân viên vì không đủ kinh phí.
Thêm nữa, do phần đông DNVVN trả lương thưởng không hấp dẫn, môi trường làm việc thiếu đi tính chuyên nghiệp nên họ ít khi thu hút được lực lượng lao động có kinh nghiệm dày dặn, có trình độ tay nghề cao. Về khả năng lãnh đạo và quản trị, hoạt động kinh doanh của hầu hết các DNVVN nằm dưới sự điều phối, chỉ đạo của duy nhất một người, chủ sáng lập ra doanh nghiệp. Và do một phần không nhỏ trong số này chưa từng trải qua trường lớp huấn luyện nghiệp vụ chuyên nghiệp nên họ thiếu đi nền tảng kiến thức và kĩ năng quản trị doanh nghiệp quan trọng. Thêm nữa, như đã nói ở trên, các lao động tại những DN này thường được trả mức lương thưởng cũng như hưởng chế độ đãi ngộ thấp.
Một hệ quả tất yếu xảy đến là việc điều hành, quản lý nhóm nhân viên này gặp vô vàn khó khăn và vướng mắc. Về mặt tài chính doanh nghiệp, có thể nói việc huy động vốn là vấn đề khó khăn và nan giải bậc nhất mà các DNVVN tại Việt Nam phải đối diện. Mặc dù có tốc độ tăng trưởng doanh số nhanh hơn nhiều lần so với các doanh nghiệp quy mô lớn, phần đông DNVVN lại chưa xây dựng được uy tín cao, khả năng cạnh tranh trên thương trường còn thấp. Thêm vào đó chỉ có một số ít những DN loại này có thể xây dựng và trình bày phương án, dự án kinh doanh khả thi, mang tính hiệu quả.
Vì thế hầu hết DNVVN thường chật vật khi làm thủ tục, hồ sơ xin vay vốn các tổ chức tài chính, các NHTM. Và lượng lớn trong số trên bị từ chối do không đáp ứng đủ yêu cầu. Do vậy, phần trăm đáng kể các chủ DNVVN chỉ huy động được nguồn vốn góp từ gia đình, người thân, bạn bè. 7 Về tư liệu sản xuất và công nghệ, hiện nay, do dây chuyền sản xuất được sử dụng bởi DNVVN Việt Nam đã bị lạc hậu đến hàng chục năm so với thế giới, nên những sản phẩm mà họ làm ra ít tính năng thông minh, không thân thiện với môi trường, giá trị thương phẩm lẫn khả năng cạnh tranh thấp đáng kể khi so với các doanh nghiệp đối thủ của những nước cùng khu vực như Thái Lan và Trung Quốc.
Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ việc các DNVVN còn dựa nhiều vào nguồn nhân công giá thành rẻ trong nước mà không chịu cải tiến, xây mới, lắp ráp dây chuyền sản xuất tiên tiến. Một lý do khác là sự khó khăn của nhóm DN này trong việc vay vốn NHTM để tiếp tục đầu tư chuyển đổi sang công nghệ. Mặc dù còn nhiều hạn chế, thiếu sót như đã nêu trên, các DNVVN của Việt Nam cũng có một số những điểm ưu việt. Thứ nhất, do có bộ máy tổ chức đơn giản, quy mô hoạt động nhỏ nên những DN loại này cực kì linh hoạt và dễ dàng thích ứng khi môi trường kinh doanh thay đổi.
Thứ hai, các DNVVN tận dụng được lợi thế nhân công địa phương giá rẻ, chi phí kinh doanh thấp nên hầu hết các mặt hàng họ sản xuất có mức giá phải chẳng, phù hợp với túi tiền tầng lớp lao động bình dân. Thứ ba, một số DNVVN thể hiện xu hướng chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực mà chủ doanh nghiệp có kinh nghiệm dày dặn từ trước giúp phục vụ, đáp ứng được nhu cầu của những khách hàng chuyên biệt, những phân đoạn thị trường vi mô. Vai trò trong nền kinh tế của DNVVN Tại Việt Nam cũng như mọi nền kinh tế khác trên toàn cầu, khối DNVVN luôn chiếm một tỉ lệ đông đảo trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Trên hết, những DN thuộc nhóm này ngày càng đảm đương các vai trò quan trọng như: tạo ra công ăn việc làm, phát huy tối đa tiềm lực kinh tế và góp phần vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP hàng năm.
Vai trò tạo việc làm, cải thiện thu nhập, mức sống của người dân: Ở những nước đang phát triển lẫn những nước đã phát triển, nhóm các DNVVN luôn là nhân tố kinh tế then chốt giúp tạo ra lượng lớn việc làm, giữ tỉ lệ thất nghiệp ở mức thấp và đảm bảo thu nhập cho người dân bản xứ. Nhờ có hoạt động kinh doanh sôi nổi của DNVVN ở khắp mọi lĩnh vực đời sống và ở khắp mọi nơi mà các nghành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp cũng như dịch vụ 8 và thương mại của Việt Nam đang không ngừng phát triển qua từng năm. Và sự phát triển này đem đến vô cùng nhiều cơ hội việc làm cho các lao động ở mọi trình độ, tay nghề khác nhau, từ lao động phổ thông, lao động vùng sâu vùng xa cho đến lao động thành thị, lao động trí thức, có kinh nghiệm, có tay nghề cao. Trong hai thập kỉ trở lại đây, các khoản lương, thưởng và thu nhập đến từ những công việc trên đã tiếp tục gia tăng nhanh chóng.
Nhờ đó, mức sống của đại đa số người dân Việt Nam được cải thiện đáng kể từ những năm 2000. Vai trò đóng góp vào phát triển kinh tế tại địa phương, thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa các vùng miền: Trái ngược với những doanh nghiệp quy mô lớn, những tập đoàn khổng lồ chỉ thường hoạt động tại các thành phố trung tâm như Hà Nội và Hồ Chí Minh, các DNVVN phân tán đồng đều hơn ở khắp các tỉnh thành của Việt Nam. Hầu hết những chủ doanh nghiệp nhóm này đều là người đã có thời gian sinh sống và làm việc lâu năm tại địa phương. Nhờ vậy, họ có một khả năng mà các nhà quản lý doanh nghiệp, tập đoàn lớn không thể nắm được.
Đó là những hiểu biết sâu sắc về địa lý vùng miền, hoạt động thương mại, trao đổi mua bán, tập tục, tính cách cũng như nhu cầu của người dân bản địa. Đây là lý do chính mà chỉ DNVVN mới có thể tận dụng và phát huy hết được nguồn lực, tiềm năng, lợi thế riêng biệt của từng địa phương. Nhóm DN này, có thể nói, là xương sống và là bản lề của kinh tế của tại tỉnh thành họ hoạt động. DNVVN đã và đang đóng góp phần lớn trong công cuộc phát triển kinh tế tại mỗi địa phương từ đồng bằng cho đến vùng núi, qua đó, giúp thu hẹp khoảng cách về quy mô kinh tế giữa các vùng khác nhau.
Vai trò hỗ trợ các doanh nghiệp quy mô lớn trong chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa Trong lịch sử thành lập và phát triển của mỗi doanh nghiệp lớn, những tập đoàn hùng mạnh đều từng có thời điểm, gian đoạn khởi đầu là DNVVN. Vậy nên, việc hỗ trợ, khuyến khích và giúp sức các DNVVN hoạt động kinh doanh cũng giống như việc ươm mầm những trồi non tương lai cho nền kinh tế. Với đà phát triển như hai thập kỉ qua, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam đang ngày càng thể hiện sự phân hóa mạnh mẽ và sâu sắc công việc trong chuỗi sản xuất, 9 cung ứng. Là những trợ thủ tí hon đắc lực của các tập đoàn, doanh nghiệp quy mô lớn, nhóm DNVVN đang đảm đương, phụ trách một số khâu như: làm đại lý đóng gói, vận chuyển và phân phối hàng chính hãng, sơ chế và cung cấp nguồn nguyên vật liệu thô đầu vào cho nhà máy.
Có thể nói, vai trò trong nền kinh tế của DNVVN sánh ngang hàng với các doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Và sự phối hợp, liên kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau của hai nhóm thành phần kinh tế trên giúp cho Việt Nam sản xuất và phân phối sản phẩm một tối ưu, hiệu quả nhất về chi phí lẫn thời gian. Từ đó, tăng thêm khả năng cạnh trạnh của nước ta khi hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM 1.