Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về vận dụng chính sách của ngân hàng nhà nước trong phát triển tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng 1. Khái niệm Theo Perter S Rose (2001) thì “Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định.
Nói cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân, hay một tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi”. Trải qua quá trình phát triển đã có nhiều hình thức tín dụng khác nhau. Ban đầu là tín dụng nặng lãi, xuất hiện ở thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy. Sau đó, sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản cho thấy tín dụng nặng lãi không còn phù hợp nữa vì vậy hoạt động của nó ngày càng thu hẹp và tín dụng thương mại xuất hiện.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các chủ thể kinh tế muốn tiến hành sản xuất kinh doanh phải có một số vốn nhất định. Do đặc điểm của vốn là tuần hoàn theo công thức T- H- T và do tính chất thời vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà mỗi đối tượng có lúc thì thừa vốn, có lúc lại thiếu vốn. Tuy nhiên, đối với các đối tượng có tính thời vụ thấp thì việc thiếu vốn tiền tệ với thời gian ngắn hơn và quy mô nhỏ hơn so với các chủ thể kinh tế có tính thời vụ cao. Đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì tại một điểm nhất định sẽ có hiện tượng một nhóm chủ thể kinh tế có vốn tạm thời chưa sử dụng trong khi một nhóm những chủ thể khác lại có 6 nhu cầu vốn bổ sung tạm thời.
Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do chu kỳ sản xuất và tính chất thời vụ ở mỗi chủ thể kinh tế, mỗi ngành kinh tế không giống nhau. Quá trình tái sản xuất là một quá trình liên tục trên cơ sở phân công và hợp tác trong toàn bộ hệ thống kinh tế, vì vậy khi mà chủ thể này thừa vốn thì sẽ có chủ thể khác thiếu vốn. Đây là hiện tượng khách quan và đòi hỏi phải có cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn, vì vậy tín dụng ngân hàng ra đời để giải quyết những mâu thuẫn đó. Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng (một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ) và một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”.
Thực tế của nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình quan hệ tín dụng cùng tồn tại như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế. Trong đó, tín dụng ngân hàng có thể được coi là quan hệ tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất với nền kinh tế và thường xuyên được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân hàng là việc cho vay của ngân hàng thương mại với các chủ thể của nền kinh tế và trong cách tiếp cận nghiên cứu đề tài, tác giả ủng hộ quan niệm phổ biến này (Quốc Hội, 2011). Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái quát: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể kinh tế - tài chính của toàn xã hội (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cấp quản lý nhà nước hoặc cá nhân). Phân loại tín dụng Phân loại tín dụng là việc xác định các loại tín dụng dựa trên những đặc điểm nhận dạng cụ thể, còn gọi là tiêu chí. Thực tế, có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng Theo Hồ Diệu (2001) tín dụng có thể được phân loại như sau: a. Căn cứ theo mục đích tín dụng - Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất động sản, bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa.
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua nguyên vật liệu, trả thuế, và chi trả lương. - Tín dụng nông nghiệp: Đây là khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân để mua sắm hàng hoá tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà, trang thiết bị trong nhà. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng như tín dụng kinh doanh chứng khoán, v. Căn cứ theo thời hạn vay - Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 1 năm. Thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu cá nhân. - Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Cho vay trung hạn dùng để cho vay vốn mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới thiết bị kỹ thuật và mở rộng, xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. 8 - Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm. Được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến, đầu tư công nghệ mới và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ 3.
- Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ 3. Căn cứ vào hình thái tín dụng - Tín dụng bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng và việc thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp. - Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, riêng đối với các ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến đó là tài trợ thuê mua.
Theo phương thức cho vay này ngân hàng hoặc các công ty thuê mua (công ty con của ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi. Căn cứ vào hình thức hoàn trả nợ - Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. - Cho vay có nhiều kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. - Cho vay trả nợ từng lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể, tuỳ vào khả năng tài chính của người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay theo nhóm - Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà ở đó ngân 9 hàng sẽ cấp một hạn mức vay và khách hàng duy trì mức dư nợ không vượt quá hạn mức đã cấp, tài sản đảm bảo trong trường hợp này là bất động sản, giấy tờ có giá hay tài sản đảm bảo khác mà được ngân hàng chấp thuận. Đặc điểm của hoạt động tín dụng - Tín dụng là quan hệ được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín Một trong những điều kiện quan trọng của khách hàng để ngân hàng cung cấp tín dụng là sự “tín nhiệm”. Ngân hàng trên cơ sở kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng đánh giá khách hàng của mình để xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng vay vốn trước khi xét đến các điều kiện khác. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng ngày nay, “Uy tín” đang ngày càng có tầm quan trọng cao hơn.
Các hình thức bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba là cần thiết, nhưng sự “tín nhiệm” giữa các bên vẫn cần là yếu tố chính để thiết lập quan hệ tín dụng. - Tín dụng là hoạt động mang tính rủi ro đa chiều Rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất phát từ nhiều chiều: từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng, từ nền kinh tế, xã hội, chính trị và nhiều yếu tố khác. Rủi ro từ phía khách hàng có thể kể đến như: rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán của khách hàng (năng lực tài chính, năng lực sản xuất, quản lý kinh doanh của khách hàng kém, rủi ro do nguyên nhân thiên tai, hoả hoạn,. ảnh hưởng), rủi ro đạo đức (khách hàng sử dụng sai mục đích, không thực hiện cam kết trả nợ).
Rủi ro từ phía ngân hàng: rủi ro trong quản lý tín dụng, kiểm tra giám sát của ngân hàng kém, rủi ro do quản trị tín dụng của ngân hàng kém, rủi ro do đạo đức cán bộ,. Các rủi ro do thay đổi của nền kinh tế, xã hội, thay đổi của chính sách quản lý, bất ổn chính trị cũng tác động đến hoạt động tín dụng.