phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các khái niệm về bảo lãnh Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời cổ Hy Lạp trong những giao dịch nhỏ lẻ, dù rất sơ khai. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu đƣợc sử dụng tại các nƣớc Tây Âu và Hoa Kỳ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của hoạt động giao lƣu trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thƣơng mại, bảo lãnh ngân hàng đã đƣợc sử dụng rất rộng rãi và đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới. Bảo lãnh ngày càng trở thành một nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng tại nhiều nƣớc. Đây là nghiệp vụ mang lại thu nhập lớn cho các ngân hàng, giúp cho các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm từ đó giảm thiểu đƣợc rủi ro trong quá trình kinh doanh. Ngƣợc lại, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh chủ yếu sử dụng nghiệp vụ BLNH nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho công việc kinh doanh của mình đồng thời đảm bảo an toàn trong giao dịch kinh doanh.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, song về bản chất và phƣơng thức thực hiện, các khái niệm này đều nêu bật lên nghĩa vụ của ngƣời phát hành bảo lãnh phải thanh toán cho ngƣời nhận bảo lãnh nếu ngƣời đó có bằng chứng chứng minh ngƣời đƣợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Theo Bộ Luật Dân sự 2015 ban hành ngày 24/11/2015, bảo lãnh đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Bảo lãnh là việc ngƣời thứ ba (sau đây gọi là bên bảo 10 lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên đƣợc bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. [1] Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận” [2] Hình thức của Bảo lãnh ngân hàng là thƣ bảo lãnh. Thƣ bảo lãnh là cam kết bằng văn bản giữa khách hàng và ngân hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
Quy trình và đặc điểm của Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng 1. Quy trình của Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng Bƣớc 1: Tiếp nhận và hoàn chỉnh hồ sơ xin bảo lãnh của khách hàng Khi khách hàng đến Ngân hàng xin cấp bảo lãnh thì cán bộ tín dụng của ngân hàng sẽ hƣớng dẫn khách hàng lập hồ sơ theo đúng quy định. Ngoài hồ sơ áp dụng cho tất cả các loại bảo lãnh thì đối với từng loại bảo lãnh lại cần thêm hồ sơ áp dụng riêng. Bao gồm: * Hồ sơ áp dụng với tất cả các loại bảo lãnh bao gồm - Giấy đề nghị bảo lãnh.
- Hồ sơ pháp lý về khách hàng. - Hồ sơ về tình hình SXKD, tài chính. - Hồ sơ về đảm bảo bảo lãnh. Nếu khách hàng đã có quan hệ tín dụng, bảo lãnh với Ngân hàng thì Chi nhánh cho phép khách hàng không phải nộp hồ sơ pháp lý về khách hàng 11 (trừ khi có điều chỉnh, bổ sung).
* Hồ sơ áp dụng riêng cho từng loại bảo lãnh: Sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng cán bộ cán bộ tín dụng sẽ thực hiện việc kiểm tra tính đầy đủ về số lƣợng và tính pháp lý của hồ sơ bảo lãnh và báo cáo trƣởng phòng việc thực hiện bảo lãnh xin ý kiến chỉ đạo (nếu đủ thì thực hiện bƣớc tiếp theo, nếu thiếu yêu cầu bổ sung). Sau đó cán bộ thực hiện bảo lãnh lập phiếu nhận hồ sơ của khách hàng và danh mục hồ sơ. Bƣớc 2 : Quyết định bảo lãnh. - Chuyển hồ sơ: sau khi nhận đƣợc hồ sơ đầy đủ từ khách hàng, cán bộ tín dụng lập danh mục hồ sơ và chuyển hồ sơ cho các phòng có liên quan (phòng nguồn vốn, phòng thẩm định…) để tổ chức việc phối hợp xử lý giữa các đơn vị phù hợp với tính chất, mức độ món bảo lãnh.
- Thẩm định hồ sơ: trong quá trình thẩm định, cán bộ tín dụng thực hiện thẩm định các nội dung sau: + Tính đầy đủ, hợp pháp và hợp lệ của hồ sơ bảo lãnh. + Năng lực pháp lý của khách hàng xin bảo lãnh. + Việc chuyển tiền ký quỹ vào tài khoản ký quỹ để thực hiện bảo lãnh. + Tình hình tài chính và năng lực SXKD của khách hàng.
+ Tính khả thi và khả năng trả nợ của dự án (đối với bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh vay vốn). + Đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, thẩm định về tài sản và các biện pháp đảm bảo cho nghĩa vụ đƣợc bảo lãnh. - Sau khi phân tích, đánh giá các nội dung trên, cán bộ tín dụng lập tờ trình Trƣởng phòng kiểm soát và để trình lãnh đạo trong đó có ý kiến đề xuất bảo lãnh hoặc từ chối với các lý do cụ thể. Bƣớc 3: Phát hành bảo lãnh.
- Hoàn chỉnh lại hồ sơ bảo lãnh (nếu có yêu cầu). 12 - Thực hiện các biện pháp đảm bảo: ký hợp đồng thế chấp, cầm cố, ký quỹ, bảo lãnh của bên thứ ba… - Ký hợp đồng bảo lãnh và phát hành thƣ bảo lãnh. Việc xem xét, quyết định bảo lãnh tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày Chi nhánh nhận đƣợc hồ sơ đầy đủ, hợp lệ của khách hàng. Bƣớc 4: Xử lý sau khi phát hành bảo lãnh.
- Theo dõi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: + Cán bộ thực hiện bảo lãnh theo dõi việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh đối với các loại bảo lãnh nhƣ bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các cam kết bảo lãnh khác. + Cán bộ thực hiện bảo lãnh theo dõi giải ngân, thực hiện nhận nợ (đối với bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn thanh toán và bảo lãnh vay vốn). - Theo dõi thực hiện hợp đồng bảo lãnh: + Thu phí bảo lãnh: Thu phí bảo lãnh căn cứ vào mức độ tín nhiệm và chính sách khách hàng. + Kiểm tra tài sản bảo đảm cho bảo lãnh Bƣớc 5: Kết thúc bảo lãnh - Tất toán bảo lãnh.
- Giải toả tài sản đảm bảo bảo lãnh. - Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm. Đặc điểm của Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng Thứ nhất, Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc. Tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất ba chủ thể, đó là Bên phát hành bảo lãnh (ngân hàng), bên đƣợc bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên thụ hƣởng).
Các chủ thể tham gia có mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng là: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thƣ bảo lãnh. Cụ thể nhƣ sau: 13 - Hợp đồng kinh tế: Trƣớc hết hợp đồng bảo lãnh đƣợc phát sinh trong mối quan hệ kinh tế giữa bên nhận bảo lãnh và bên đƣợc bảo lãnh. Hai chủ thể này thỏa thuận, ký kết hợp đồng kinh tế. Trong đó, bên nhận bảo lãnh yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh và chỉ khi bên đƣợc bảo lãnh đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngân hàng thì bảo lãnh mới đƣợc xác lập.
Từ đó phát sinh ra các mối quan hệ tiếp theo. - Hợp đồng bảo lãnh: Quan hệ giữa ngân hàng và bên đƣợc bảo lãnh thông qua hợp đồng bảo lãnh - Cam kết bảo lãnh (thƣ bảo lãnh): Thƣ bảo lãnh do ngân hàng phát hành trao cho bên nhận bảo lãnh trong đó quy định những điều kiện để bên nhận bảo lãnh có thể nhận đƣợc thanh toán của ngân hàng trong trƣờng hợp bên đƣợc bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Thứ hai, Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập cao Đặc điểm quan trọng của Thƣ bảo lãnh là sự độc lập của nó đối với hợp đồng cơ sở. Dù rằng mục đích của thƣ bảo lãnh là để đền bù cho ngƣời thụ hƣởng những tổn thất do Ngƣời đƣợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng cơ sở gây ra, nhƣng ngƣời thụ hƣởng chỉ đƣợc đòi tiền theo thƣ bảo lãnh nếu việc đòi tiền đó phù hợp với những điều khoản, điều kiện đã đƣợc quy định trong thƣ bảo lãnh.
Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này có yêu cầu và bằng chứng chứng minh sƣ vi phạm hợp đồng của bên đƣợc bảo lãnh. Ngân hàng không thể viện cớ do những vấn đề phát sinh từ hợp đồng cơ sở để từ chối nghĩa vụ của mình. Thứ ba, Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng nhƣng lại đƣợc quản lý nhƣ một nghiệp vụ tín dụng Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Khi phát hành một cam kết bảo lãnh, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không hề bị thay đổi.
Do vậy, nghiệp vụ bảo lãnh đƣợc coi là một hoạt động ngoại 14 bảng. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp bên đƣợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng theo các điều khoản đƣợc ghi trong cam kết bảo lãnh, ngân hàng buộc phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Nếu bên đƣợc bảo lãnh chƣa hoàn trả ngay cho ngân hàng, ngân hàng sẽ cấp một khoản tín dụng bắt buộc cho bên đƣợc bảo lãnh. Khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản của ngân hàng, ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản và các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng.
Bởi vậy, tuy là một hoạt động ngoại bảng, bảo lãnh vẫn phải đƣợc giám sát và quản lý một cách chặt chẽ nhƣ các hình thức cấp tín dụng khác.